Chủ Nhật, 30 tháng 1, 2022

 Những ngày cuối năm...

Như vậy, câu hỏi đầu tiên cần đặt ra trên hành trình xây dựng nền kinh tế thực phẩm tuần hoàn là, vì sao chúng ta lại vứt bỏ nhiều thực phẩm vẫn còn trong tình trạng sử dụng tốt đến như vậy? Một lý do ở đây là chúng ta đã được thuyết phục làm như vậy.

Người mua hãy bớt cảnh giác

“Hạn chót bán,” “Sử dụng trước,” “Sử dụng tốt nhất trước,” “Độ tươi nhất trước,” “Hết hạn sử dụng vào ngày.” Phần lớn các loại thực phẩm mà chúng ta mua về đều được đóng một trong những nhãn khuyến cáo trên; thường là có cả hai loại nhãn “hạn chót bán” và “sử dụng tốt nhất trước.” Những mốc ngày tháng này trông có vẻ chính thức và chính xác, và đều được mặc định cho là dựa trên cơ sở khoa học. Nhưng không phải. Về bản chất, chúng chính là nguyên nhân hàng đầu khiến mọi người vứt bỏ thực phẩm, và chỉ tính riêng ở nước Mỹ, lượng thực phẩm bị vứt bỏ mỗi năm đã lên tới gần 29 tỉ đô-la – dù rằng đó đều là những thực phẩm mùi vị còn tốt và an toàn để ăn. Ai nghĩ ra những mốc thời hạn đó? Phần nhiều là do các nhà sản xuất tính toán ra và đóng nhãn lên sản phẩm, và có một số là do nhà bán lẻ gắn lên dựa theo gợi ý từ phía nhà cung cấp. Vậy họ làm sao để cho ra những số liệu đó? Đối với nhiều loại thực phẩm, các nhà sản xuất thường để sản phẩm mẫu trong phòng thí nghiệm rồi tính thời gian chúng chuyển qua trạng thái hư hỏng, sau đó tính thêm lượng thời gian di chuyển dự kiến của sản phẩm tới kệ trưng bày trong cửa hàng, từ đó đưa ra dự đoán về thời hạn sử dụng sản phẩm. Những yếu tố như môi trường nhiệt độ trên hành trình di chuyển của thực phẩm trong chuỗi cung ứng, từ cửa hàng tới nhà, và thời gian cũng như các yếu tố liên quan khác trong quá trình thực phẩm biến chất, chẳng hạn độ ẩm, đều có độ biến thiên quá lớn nên không thể bảo đảm được độ chính xác trong các phép tính. Các mốc thời hạn này thậm chí còn không phải là sự ước tính về thời điểm thực phẩm sẽ thực sự biến chất; thay vào đó, chúng là sự ước tính về thời điểm thực phẩm có hình thức và mùi vị đang ở trạng thái tốt tối ưu. Khác với suy nghĩ của nhiều người tiêu dùng, sự xuất hiện của chúng không phải do quy định của luật pháp liên bang (ngoại trừ đồ ăn dành cho trẻ nhỏ, bởi vì thời hạn sử dụng của nhóm đồ ăn này là bắt buộc phải có). Mặc dù 41 tiểu bang có quy định yêu cầu một số sản phẩm phải có thời hạn sử dụng, chẳng hạn sữa, nhưng nhìn chung cách tính rất lộn xộn và khác nhau ở mỗi tiểu bang. Tuy nhiên, phía các nhà sản xuất cũng không có ý định xấu. Nguyên nhân ở đây thường nằm ở các chuỗi cung ứng lạc hậu với hiệu suất hoạt động thấp, không cung cấp được cho nhà sản xuất và nhà bán lẻ những dữ liệu cần thiết để họ có thể tư vấn cho khách hàng một cách phù hợp và nhất quán. Kết quả là, họ cố gắng ấn định một thời hạn ước tính độ tươi mới của sản phẩm. Mức độ chính xác hiện nay của phép ước tính trên là sự thiệt hại hàng tỉ đô-la thực phẩm cộng với hàng tỉ đô-la chi phí để vận chuyển những thực phẩm vẫn đang trong trạng thái sử dụng tốt ra bãi rác.

Nhưng vấn đề rác thải thực phẩm ở Mỹ không dừng lại ở số lượng thực phẩm bị lãng phí do gắn nhãn thời hạn sử dụng không chính xác. Bên cạnh đó còn có các loại thực phẩm bị các cửa hàng thực phẩm, nhà hàng, và người tiêu dùng vứt bỏ đi dựa trên đánh giá hình thức bên ngoài mà không cân nhắc đến mùi vị và độ tươi mới thực sự của chúng. Một số cửa hàng thậm chí còn cố tình vứt bỏ thực phẩm. Hằng đêm họ lại vứt đi một lượng lớn thực phẩm vẫn còn tươi bởi vì kế hoạch của họ là dự trữ một khối lượng hàng hóa lớn hơn so với số lượng bán ra. Quan điểm phổ biến cho rằng người mua hàng thích trông thấy những đống lớn quả bơ, cà chua, quả đào, và quả lê với hình dáng đẹp mắt, không có những vết thâm đen, và rằng chúng ta sẽ có xu hướng mua nhiều hơn khi đứng trước cảnh tượng hấp dẫn đó. Dự trữ dư thừa cũng phổ biến đối với các loại cá đến mức theo một cuộc khảo sát, 26% số cá dự trữ ở Mỹ không hề được bán, bất chấp thực tế rằng 90% lượng cá được bán ở Mỹ đều là cá nhập khẩu, trong đó có một phần không nhỏ có xuất xứ từ châu Á và đã phải vượt cả một chặng đường dài hàng nghìn ki-lô-mét để đến được nước Mỹ.

Doug Rauch, cựu chủ tịch của chuỗi bách hóa thực phẩm Trader Joe’s, lý giải lối tư duy của các cửa hàng thực phẩm như sau: “Nếu một cửa hàng có lượng rác thải ít, đây có thể là dấu hiệu cho thấy lượng hàng dự trữ của họ không đủ và điều đó sẽ ảnh hưởng đến trải nghiệm của khách hàng.” Chính vì cách suy nghĩ này mà các cửa hàng phải chịu những tổn thất đáng kể về lợi nhuận, đặc biệt là khi đặt trong bối cảnh biên lợi nhuận trung bình của một chuỗi bách hóa thực phẩm chỉ dao động trong khoảng 1-3%. Tuy nhiên, khi chuỗi siêu thị Stop and Shop thực hiện một phân tích về hiệu quả của việc chấm dứt cách trưng bày chất đống các sản phẩm thực phẩm dễ hư hỏng, họ phát hiện ra rằng trên thực tế khách hàng lại thích cách trình bày nhỏ gọn bởi vì như vậy, các mặt hàng sẽ tươi mới hơn nhiều; thực ra là tươi hơn đến ba ngày. Sau khi thay đổi cách thức trưng bày, mỗi năm chuỗi siêu thị này tiết kiệm được 100 triệu đô-la. Các cửa hàng thực phẩm đang rút ra bài học rằng quan điểm ngộ nhận mà họ đã nhắm mắt tôn thờ suốt nhiều năm qua là hoàn toàn vô căn cứ, không có bất kỳ dữ liệu hay nghiên cứu đáng tin cậy nào hỗ trợ. Dữ liệu duy nhất nằm trên các bảng báo cáo lãi và lỗ của họ, qua đó cho thấy họ đã thiệt hại hàng triệu đô-la để mua những lượng lớn hàng hóa mà họ đã biết trước rằng mình không có khả năng bán hết, và sau đó là số tiền mà họ phải chi ra để vận chuyển phần sản phẩm dư thừa này ra bãi rác.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tung hoa!!!

 Không biết đã bao lâu rồi không viết blog. FB thấy không vào thì cũng ko sao.  Nói chung là yên ổn với công việc của mình. Thực ra là ko yê...