Tối nay tôi vừa làm một chuyến đi bộ loanh quanh. Đi bộ giúp đầu óc thư thái hơn. Dù rằng đi bộ ngoài đường phố thì cũng chẳng lấy gì làm thú cho lắm, chưa kể mỗi khi đi như vậy, hai lòng bàn tay tôi lại ngứa ran lên, về đến nhà một lúc mới khỏi. Tôi đoán không khí ở đây không được trong lành lắm.
Là tôi đang có chuyện để nghĩ. Có lẽ, bấy lâu nay tôi đã quá chìm đắm trong thế giới khép kín của mình, hành động theo những ý thích nhất thời của bản thân mà không để ý tới người khác, và trở thành kẻ ích kỷ và đớn hèn.
Tôi đã bỏ công ty cũ trong lúc dự án sách trong đó có tôi tham gia đang vào lúc dầu sôi lửa bỏng. Tôi không chịu được áp lực đó, tôi không chịu được sức ép từ một người sếp tuy tử tế nhưng lúc nào cũng căn cơ đến từng ngày tiến độ - bởi tôi là kẻ vô tổ chức bẩm sinh. Và tôi đã bỏ chạy. Tôi không hề nghĩ rằng điều đó có gì hệ trọng lắm. Cho đến ngày hôm nay. Tôi gián tiếp được nghe một lời trách cứ - một lời trách cứ hết sức thỏa đáng.
Dĩ nhiên, mọi ân hận đều đã muộn màng. Tôi phải rút ra bài học và đi tiếp. Chỉ là, sự việc này khiến tôi giật mình: còn bao nhiêu điều không hay, không phải mà tôi đã, đang, và sẽ làm mà tôi không hề hay biết?
Thứ Bảy, 27 tháng 8, 2016
Thứ Sáu, 26 tháng 8, 2016
Hãy tu tập thiền định
Chớ làm kẻ lang thang,
Chớ ưa thích trạo cử,
Đừng rơi vào phóng dật,
Đối với các chỗ ngồi,
Cùng với các chỗ nằm,
Tỷ-kheo hãy an trú,
Những chỗ không tiếng động.
***
Ngủ nghỉ có chừng mực,
***
Ngủ nghỉ có chừng mực,
Chớ có ngủ quá nhiều,
Hãy luôn luôn tỉnh thức,
Nỗ lực và nhiệt tâm,
Hãy từ bỏ biếng nhác,
Man trá, cười, chơi đùa,
Hãy từ bỏ dâm dục,
Bỏ ưa thích trang điểm.
***
Chớ có dùng bùa chú,
A-thar-va Vệ-đà,
Chớ tổ chức đoán mộng,
Coi tướng và xem sao,
Mong rằng đệ tử Ta,
Không đoán tiếng thú kêu,
Không chữa bệnh không sanh,
Không hành nghề lang băm.
***
Tỷ-kheo không run sợ,
Khi bị người chỉ trích,
Cũng không có cống cao,
Khi được khen tán thán,
Hãy từ bỏ tham ái,
Cùng với tánh xan tham,
Kể luôn cả phẫn nộ,
Cùng với nói hai lưỡi.
Kinh Nikaya
Không chấp thủ triền phược,
Ẩn sĩ sống ở đời,
Giữa tranh luận khởi lên,
Không theo phe phái nào,
Sống an tịnh, hỷ xả,
Giữa những người không tịnh,
Các người khác học hỏi,
Vị ấy sống không học.
***
Từ bỏ lậu hoặc cũ,
Không tạo lậu hoặc mới,
Không đi đến ước muốn,
Không cuồng tín chấp thủ,
Vị Hiền trí như vậy,
Thoát khỏi các tà tà kiến,
Không tham dính ở đời,
Không bị ngã chỉ trích.
***
Không có sự thù hằn
Đối với tất cả pháp,
Phàm có thấy nghe gì,
Cùng với tưởng và thọ,
Ẩn sĩ không hệ lụy,
Đã đặt gánh nặng xuống
Không liên hệ thời gian,
Không chấm dứt, không cầu,
Thế Tôn nói như vậy.
Kinh Nikaya
Ẩn sĩ sống ở đời,
Giữa tranh luận khởi lên,
Không theo phe phái nào,
Sống an tịnh, hỷ xả,
Giữa những người không tịnh,
Các người khác học hỏi,
Vị ấy sống không học.
***
Từ bỏ lậu hoặc cũ,
Không tạo lậu hoặc mới,
Không đi đến ước muốn,
Không cuồng tín chấp thủ,
Vị Hiền trí như vậy,
Thoát khỏi các tà tà kiến,
Không tham dính ở đời,
Không bị ngã chỉ trích.
***
Không có sự thù hằn
Đối với tất cả pháp,
Phàm có thấy nghe gì,
Cùng với tưởng và thọ,
Ẩn sĩ không hệ lụy,
Đã đặt gánh nặng xuống
Không liên hệ thời gian,
Không chấm dứt, không cầu,
Thế Tôn nói như vậy.
Kinh Nikaya
Mấy hôm trước, tâm trạng suy sụp tới thảm hại, rồi lại bị cốc cà phê kích thích, tôi thấy người bức bách như có thể tự tử được. Lúc ấy, một ý nghĩ hiện ra trong tôi: nếu như lúc này, tất cả các cảm xúc tôi đã trải qua, từ quá khứ đến bây giờ, đột ngột kéo đến và ập vào đầu tôi cùng một lúc, thì tôi sẽ thế nào? Hẳn tôi sẽ chẳng còn gì để nghĩ ngợi nữa, và cái đầu tôi chỉ còn một việc là nổ tung.
Những suy nghĩ dở hơi và lẩn thẩn thế này, tôi vẫn còn nhiều lắm. Đầu óc tôi, nó cứ hỗn mang như cái thiên đàng đương lập dở.
Con đường tu tập, tôi đã quyết định sẽ đi theo. Nhưng có lẽ tâm tín chưa đủ, nguyện thiết chưa thành nên cứ nhùng nhằng. Người xưa bảo: bậc thượng căn nghe đạo xong rồi liền rốt ráo làm theo, bậc trung căn nghe rồi lúc nhớ lúc quên, bậc hạ căn nghe xong thì cười ha hả. Tôi nay tự xếp mình vào hạng trung căn.
Và đó là điều nguy hiểm. Vì, như lời một bài sám:
Như cây nay nhổ mai trồng
Thì không ra được trái bông mà dùng.
***
32 tuổi. Và tôi đương bắt đầu tìm hiểu về cuộc đời, về những con người xung quanh, và về cả chính tôi. Nó cũng có cái hay. Vừa là người sống vừa là người quan sát. Nhiều khi tôi chưa kiềm chế được bản thân như mình mong muốn. Nhiều khi vẫn phải cố nói cho bằng được để hạ cơn hỏa, để thỏa cái lòng tấm tức.
Nhưng có lẽ, tôi cũng chẳng nên mong cầu một cuộc đại ngộ. Chỉ là, cần phải phát tâm tinh tấn hơn nữa.
Đôi lúc thì tôi thấy buồn. Khi lại chán nản. Lúc thì thấy bất lực và hoang mang. Có khi lại như đang ngóng đang trông một cái gì. Nhưng cũng có dăm bận thấy lòng thơ thới nhẹ tênh.
Tôi cứ xoay vần giữa những cảm xúc như vậy.
Và tôi nghĩ mình hỏng bét hết cả.
Để rồi xem.
Những suy nghĩ dở hơi và lẩn thẩn thế này, tôi vẫn còn nhiều lắm. Đầu óc tôi, nó cứ hỗn mang như cái thiên đàng đương lập dở.
Con đường tu tập, tôi đã quyết định sẽ đi theo. Nhưng có lẽ tâm tín chưa đủ, nguyện thiết chưa thành nên cứ nhùng nhằng. Người xưa bảo: bậc thượng căn nghe đạo xong rồi liền rốt ráo làm theo, bậc trung căn nghe rồi lúc nhớ lúc quên, bậc hạ căn nghe xong thì cười ha hả. Tôi nay tự xếp mình vào hạng trung căn.
Và đó là điều nguy hiểm. Vì, như lời một bài sám:
Như cây nay nhổ mai trồng
Thì không ra được trái bông mà dùng.
***
32 tuổi. Và tôi đương bắt đầu tìm hiểu về cuộc đời, về những con người xung quanh, và về cả chính tôi. Nó cũng có cái hay. Vừa là người sống vừa là người quan sát. Nhiều khi tôi chưa kiềm chế được bản thân như mình mong muốn. Nhiều khi vẫn phải cố nói cho bằng được để hạ cơn hỏa, để thỏa cái lòng tấm tức.
Nhưng có lẽ, tôi cũng chẳng nên mong cầu một cuộc đại ngộ. Chỉ là, cần phải phát tâm tinh tấn hơn nữa.
Đôi lúc thì tôi thấy buồn. Khi lại chán nản. Lúc thì thấy bất lực và hoang mang. Có khi lại như đang ngóng đang trông một cái gì. Nhưng cũng có dăm bận thấy lòng thơ thới nhẹ tênh.
Tôi cứ xoay vần giữa những cảm xúc như vậy.
Và tôi nghĩ mình hỏng bét hết cả.
Để rồi xem.
Thứ Ba, 23 tháng 8, 2016
Càng đọc kinh, càng thấy cái nghiệp mình nó dày. Thân người dẫu được, nhưng vẫn bị vướng sâu vào vòng tục lụy; Phật pháp, trong thời buổi thông tin nhiễu loạn này, tuy có nhưng bị pha tạp rất nhiều, không tỉnh giác dễ sa vào tà kiến như chơi.
Dần dà, mình đã hiểu ra, cõi Trời không phải cõi lành. Cõi Trời tu phước rất khó. Vì ở đó, ai ai cũng được vui hưởng ngũ dục, chẳng ai phải tranh giành của ai, chẳng ai phải cầu cạnh ai cái gì, mọi người đều sống hòa đồng vui vẻ với nhau nên muốn tu tâm nhẫn nhục, tâm từ bi, tâm hỉ, tâm xả... đều rất khó.
Cõi người thì tha hồ tu tập. Đụng chuyện là phiền, nên tu full-time được. Chỉ chạnh lòng, Phật nói bố thí cho người trì giới thì phước đức lớn hơn bố thí cho người không trì giới. Nhưng xã hội giờ, sư sãi nhiều mà người tu hành chẳng có bao nhiêu - là do cái phán đoán chủ quan của mình nói thế. Khéo bây giờ, như lời Ma vương nói với Phật, sau khi Phật diệt độ, tới thời Mạt pháp, quân của Ma vương sẽ khoác áo cà sa, cạo trọc đầu, giả dạng tăng ni mà dụ dỗ chúng sinh. Gặp được người trì giới, quả thực khó quá. Cũng có thể do cái duyên của mình chưa tới chăng?
À, có một quan sát nho nhỏ. Hôm nay nhìn thấy một con rết. Bình thường ra, thấy rết hay gián là dù đang bận việc gì cũng xông vào truy sát cho bằng được, thậm chí bắt được rồi còn băm vằm ra như trả được thù tiền kiếp. Nhưng hôm nay thì hình như không còn ý nghĩ ấy nữa. Trước đây, niệm trước là nhìn thấy rết, niệm sau là tâm sân hại nổi lên. Bây giờ, cái niệm sân hại ấy tự dưng đi đâu. Là một chút dấu hiệu be bé cho thấy một sự thay đổi nào đó ư? Mà thôi, cũng không nên phân tích gì nhiều. Biết như vậy là được rồi.
Cái ngã của mình vẫn quá lớn. Thấy người khác đối xử không tốt với mình, vẫn còn hậm hực, vẫn chạnh lòng. Nhưng, ở một góc độ khác, những con người ấy, những hoàn cảnh ấy đến với mình là để giúp mình kiểm nghiệm công phu tu tập của mình tới đâu. Không có họ làm khung tham chiếu, sao mình có thể nhận ra được mình chứ?
Dần dà, mình đã hiểu ra, cõi Trời không phải cõi lành. Cõi Trời tu phước rất khó. Vì ở đó, ai ai cũng được vui hưởng ngũ dục, chẳng ai phải tranh giành của ai, chẳng ai phải cầu cạnh ai cái gì, mọi người đều sống hòa đồng vui vẻ với nhau nên muốn tu tâm nhẫn nhục, tâm từ bi, tâm hỉ, tâm xả... đều rất khó.
Cõi người thì tha hồ tu tập. Đụng chuyện là phiền, nên tu full-time được. Chỉ chạnh lòng, Phật nói bố thí cho người trì giới thì phước đức lớn hơn bố thí cho người không trì giới. Nhưng xã hội giờ, sư sãi nhiều mà người tu hành chẳng có bao nhiêu - là do cái phán đoán chủ quan của mình nói thế. Khéo bây giờ, như lời Ma vương nói với Phật, sau khi Phật diệt độ, tới thời Mạt pháp, quân của Ma vương sẽ khoác áo cà sa, cạo trọc đầu, giả dạng tăng ni mà dụ dỗ chúng sinh. Gặp được người trì giới, quả thực khó quá. Cũng có thể do cái duyên của mình chưa tới chăng?
À, có một quan sát nho nhỏ. Hôm nay nhìn thấy một con rết. Bình thường ra, thấy rết hay gián là dù đang bận việc gì cũng xông vào truy sát cho bằng được, thậm chí bắt được rồi còn băm vằm ra như trả được thù tiền kiếp. Nhưng hôm nay thì hình như không còn ý nghĩ ấy nữa. Trước đây, niệm trước là nhìn thấy rết, niệm sau là tâm sân hại nổi lên. Bây giờ, cái niệm sân hại ấy tự dưng đi đâu. Là một chút dấu hiệu be bé cho thấy một sự thay đổi nào đó ư? Mà thôi, cũng không nên phân tích gì nhiều. Biết như vậy là được rồi.
Cái ngã của mình vẫn quá lớn. Thấy người khác đối xử không tốt với mình, vẫn còn hậm hực, vẫn chạnh lòng. Nhưng, ở một góc độ khác, những con người ấy, những hoàn cảnh ấy đến với mình là để giúp mình kiểm nghiệm công phu tu tập của mình tới đâu. Không có họ làm khung tham chiếu, sao mình có thể nhận ra được mình chứ?
Thứ Hai, 22 tháng 8, 2016
Chớ có giết hữu tình,
Chớ lấy của không cho,
Chớ lấy của không cho,
Chớ nói láo không thật,
Chớ uống rượu say mê,
Từ bỏ phi Phạm hạnh,
Không hành trì dâm dục
Không có ăn ban đêm,
Không ăn lúc phi thời.
Chớ mang các vòng hoa,
Chớ dùng các nước thơm,
Hãy nằm trên mặt đất,
Trên thảm chiếu trải dài,
Tám hạnh này được gọi
Là hạnh ngày trai giới,
Do đức Phật giảng dạy,
Để chấm dứt khổ đau.
Từ nay ngày trai giới,
Chia nửa tháng hai phần,
Ngày mười bốn, mười mười lăm,
Hay ngày tám mỗi tháng,
Với tâm ý hoan hỷ,
Thực hành thần thông pháp
Gồm có đủ tám phần,
Khéo đầy đủ vẹn toàn.
Do vậy, vào buổi sáng,
Thực hành ngày trai giới,
Bậc có trí sáng suốt,
Với tâm tư tín thành,
Với tâm ý tùy hỷ,
Cúng dường Tỷ-kheo Tăng,
Với món ăn đồ uống,
Hợp với khả năng mình.
Hãy nuôi dưỡng mẹ cha,
Hợp pháp và đúng pháp,
Và cũng đúng với pháp,
Hãy làm nghề buôn bán,
Người gia chủ như vậy,
Sở hành không phóng dật,
Được sanh làm Thiên nhân,
Tên là: "Tự chói sáng".
Kinh Nikaya
Chủ Nhật, 21 tháng 8, 2016
Tôi vừa đọc được 1 câu trên FB, và câu nói khiến tôi giật mình: We are all puppets. I'm just a puppet who can see the strings. Câu nói khiến tôi nghĩ đến hoàn cảnh của mình. Những sợi dây của mình. Ở đâu đó tôi vẫn chưa thoát ra khỏi cái bóng ma của quá khứ. Ở đâu đó tôi vẫn giữ đầy những sân hận. Những bất an, những dằn vặt.
Kinh Điềm lành lớn
Như vầy tôi nghe: Một thời Thế Tôn trú tại Sàvatthi, ở Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi một Thiên nhân, khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, vị Thiên nhân ấy với bài kệ bạch Thế Tôn:
Thiên nhân:
258. Nhiều Thiên nhân và Người,
258. Nhiều Thiên nhân và Người,
Suy nghĩ đến điềm lành,
Mong ước và đợi chờ,
Một nếp sống an toàn,
Xin Ngài hãy nói lên
Về điềm lành tối thượng.
Thế Tôn:
259. Không thân cận kẻ ngu,
Nhưng gần gũi bậc trí,
Đảnh lễ người đáng lễ
Đảnh lễ người đáng lễ
Là điềm lành tối thượng.
260. Ở trú xứ thích hợp,
Công đức trước đã làm,
Chân chánh hướng tụ tâm,
Là điều lành tối thượng.
261. Học nhiều, nghề nghiệp giỏi,
Khéo huấn luyện học tập,
Nói những lời khéo nói
Là điềm lành tối thượng.
262. Hiếu dưỡng mẹ và cha,
Nuôi dưỡng vợ và con,
Làm nghề không rắc rối
Là điềm lành tối thượng.
263. Bố thí, hành đúng pháp,
263. Bố thí, hành đúng pháp,
Săn sóc các bà con,
Làm nghiệp không lỗi lầm
Là điềm lành tối thượng.
264. Chấm dứt, từ bỏ ác,
Chế ngự đam mê rượu,
Trong pháp, không phóng dật
Là điềm lành tối thượng.
265. Kính lễ và hạ mình,
Biết đủ và biết ơn,
Đúng thời, nghe Chánh pháp
Là điềm lành tối thượng.
266. Nhẫn nhục, lời hòa nhã,
Yết kiến các Sa-môn,
Đúng thời, đàm luận pháp,
Là điềm lành tối thượng.
267. Khắc khổ và Phạm hạnh,
Thấy được lý Thánh đế,
Giác ngộ quả Niết bàn
Là điềm lành tối thượng.
268. Khi xúc chạm việc đời,
Tâm không động, không sâu,
Không uế nhiễm, an ổn
Là điềm lành tối thượng.
269. Làm sự việc như vậy,
Không chỗ nào thất bại,
Khắp nơi được an toàn,
Là điềm lành tối thượng.
Kinh Nikaya
Hãy tu tập từ tâm,
Trong tất cả thế giới,
Hãy tu tập tâm ý,
Không hạn lượng rộng lớn.
Phía trên và phía dưới,
Cũng vậy, cả bề ngang,
Không hạn chế, trói buộc,
Không hận, không thù địch.
Khi đứng, hay khi đi,
Khi đứng, hay khi đi,
Khi ngồi, hay khi nằm,
Lâu cho đến khi nào,
Khi đang còn tỉnh thức,
Hãy an trú niệm này,
Nếp sống này như vậy,
Được đời đề cập đến,
Là nếp sống tối thượng.
Ai từ bỏ tà kiến,
Ai từ bỏ tà kiến,
Giữ giới, đủ chánh kiến,
Nhiếp phục được tham ái,
Đối với các dục vọng,
Không còn phải tái sanh,
Đi đến thai tạng nữa.
Kinh Nikaya
Thứ Bảy, 20 tháng 8, 2016
Khắp cả bốn phương trời,
Không sân hận với ai,
Tự mình biết vừa đủ,
Với vật này vật khác,
Vững chịu các hiểm nguy,
Không run sợ dao động,
Hãy sống riêng một mình
Như tê ngưu một sừng.
***
Thật chúng ta tán thán,
Các bằng hữu chu toàn,
Bậc hơn ta, bằng ta,
Nên sống gần thân cận.
Nếu không gặp bạn này
Những bậc không lầm lỗi,
Hãy sống riêng một mình
Như tê ngưu một sừng.
***
Lạnh lẽo và nóng bức,
Ai ưa thích hội chúng,
Đoạn tận lòng tham ái,
Không sân hận với ai,
Tự mình biết vừa đủ,
Với vật này vật khác,
Vững chịu các hiểm nguy,
Không run sợ dao động,
Hãy sống riêng một mình
Như tê ngưu một sừng.
***
Thật chúng ta tán thán,
Các bằng hữu chu toàn,
Bậc hơn ta, bằng ta,
Nên sống gần thân cận.
Nếu không gặp bạn này
Những bậc không lầm lỗi,
Hãy sống riêng một mình
Như tê ngưu một sừng.
***
Lạnh lẽo và nóng bức,
Đói bụng và khát nước,
Gió thổi, ánh mặt trời.
Muỗi lằn và rắn rết.
Tất cả xúc chạm này,
Đều chịu đựng vượt qua,
Hãy sống riêng một mình
Như tê ngưu một sừng.
***
***
Ai ưa thích hội chúng,
Sự kiện không xảy ra,
Người ấy có thể chứng,
Cảm thọ thời giải thoát.
Cân nhắc lời giảng dạy,
Đấng bà con mặt trời,
Hãy sống riêng một mình
Như tê ngưu một sừng.
***
Mọi du hí vui đùa,
***
Mọi du hí vui đùa,
Và dục lạc ở đời,
Không điểm trang bày biện,
Không ước vọng mong cầu,
Từ bỏ mọi hào nhoáng,
Nói lên lời chân thật,
Hãy sống riêng một mình
Như tê ngưu một sừng.
***
Với mắt cúi nhìn xuống,
***
Với mắt cúi nhìn xuống,
Chân đi không lưu luyến,
Các căn được hộ trì,
Tâm ý khéo chế ngự.
Không đầy ứ, rỉ chảy,
Không cháy đỏ bừng lên,
Hãy sống riêng một mình
Như tê ngưu một sừng.
***
Hãy xoay lưng trở lại
***
Hãy xoay lưng trở lại
Đối với lạc và khổ,
Cả đối với hỷ ưu,
Được cảm thọ từ trước,
Hãy chứng cho được xả,
An chỉ và thanh tịnh;
Hãy sống riêng một mình
Như tê ngưu một sừng.
***
Tinh cần và tinh tấn,
***
Tinh cần và tinh tấn,
Đạt được lý chân đế,
Tâm không còn thụ động,
Không còn có biếng nhác,
Kiên trì trong cố gắng,
Dõng lực được sanh khởi,
Hãy sống riêng một mình
Như tê ngưu một sừng.
***
Không từ bỏ độc cư,
***
Không từ bỏ độc cư,
Hạnh viễn ly thiền định,
Thường thường sống hành trì,
Tùy pháp trong các pháp.
Chơn chánh nhận thức rõ,
Nguy hiểm trong sanh hữu,
Hãy sống riêng một mình
Như tê ngưu một sừng.
***
Mong cầu đoạn diệt ái,
***
Mong cầu đoạn diệt ái,
Sống hạnh không phóng dật,
Không đần độn câm ngọng,
Nghe nhiều, giữ chánh niệm.
Các pháp được giác sát,
Quyết định, chánh tinh cần.
Hãy sống riêng một mình
Như tê ngưu một sừng.
***
Giống như con sư tử,
***
Giống như con sư tử,
Với quai hàm hùng mạnh,
Bậc chúa của loài thú,
Sống chinh phục chế ngự.
Hãy sống các trú xứ,
Nhàn tịnh và xa vắng,
Hãy sống riêng một mình
Như tê ngưu một sừng.
***
Từ tâm, sống trú xả,
***
Từ tâm, sống trú xả,
Bi tâm, hạnh giải thoát,
Sống hành trì thực hiện,
Hỷ tâm, cho đúng thời,
Không chống đối và chậm,
Với một ai ở đời.
Hãy sống riêng một mình
Như tê ngưu một sừng.
***
***
Đoạn tận lòng tham ái,
Sân hận và si mê,
Chặt đứt và cắt đoạn,
Các kiết sử lớn nhỏ
Không có gì sợ hãi,
Khi mạng sống gần chung,
Hãy sống riêng một mình
Như tê ngưu một sừng.
***
Có những bạn vì lợi,
***
Có những bạn vì lợi,
Thân cận và chung sống,
Những bạn không mưu lợi,
Nay khó tìm ở đời.
Người sáng suốt lợi mình,
Không phải người trong sạch,
Hãy sống riêng một mình
Như tê ngưu một sừng.
Kinh Nikaya
Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2016
Trích Đoạn Khai Thị của Pháp sư Tịnh Không
144. Chúng ta nhất định phải làm từ chính bản thân mình, làm ra một cái gương tốt mới có thể giáo hóa chúng sanh. Cho nên chúng ta ngày nay ở trên toàn thế giới, ở bất cứ nơi nào hoằng dương Phật pháp, chúng ta có một tổng đề mục, có một tổng mục tiêu, một phương hướng chính là “học vi nhân sư, hành vi thế phạm”. Chúng ta rất rõ ràng rất tường tận cả thảy Phật pháp Đại Thừa đều không ngoài hai câu này. “Tác sư”, “Sư” là gương mẫu, tuyệt nhiên không phải nói người xuất gia gọi là pháp sư phải tác sư, đó là lý đương nhiên. Mỗi một vị đồng tu ở tại giai đều phải tác sư, tác phạm. Ở ngay trong cương vị công tác hiện tại của chúng ta, ngay trong đời sống hiện tiền của chúng ta phải làm ra tấm gương tốt cho đại chúng, đó chính là tác sư, tác phạm. Chư Phật, Bồ Tát là tấm gương tốt nhất cho tất cả chúng sanh trong chín pháp giới, là mô phạm tốt nhất, chúng ta phải hiểu được cái ý này. Ngày trước tôi đã nói qua với các vị đồng tu, đã từng có người hỏi qua tôi là cha mẹ hiện tại rất khó quản giáo con cái, con cái không nghe lời cha mẹ; học trò trong trường học không nghe lời thầy giáo, thầy giáo dạy học rất khổ; ở trong xã hội công nhân không nghe lời ông chủ, hiện tại ở trên toàn thế giới các khu vực phổ biến đều có thể xem thấy, đó là một vấn đề lớn nghiêm trọng trong xã hội.
Trên toàn thế giới có rất nhiều người lãnh đạo có trí tuệ thông minh, trong giới học thuật, nhà xí nghiệp trong giới công thương nghiệp, các lãnh đạo tôn giáo, đều đang tìm cầu phương pháp giải quyết vấn đề xã hội ngày nay. Rốt cuộc lỗi lầm là do đâu? Vào năm trước ở trường đại học sư phạm Bắc Kinh, tôi xem thấy trong trường học có đề tám chữ này đó là “học vi nhân sư, thân vi thế phạm”. Thế nhưng thời gian tôi ở trong trường không lâu, ngay trong lúc tiếp đón tôi đã nói qua mấy câu này. Cổ thánh tiên hiền Trung Quốc dạy bảo chúng ta “tác thân, tác quân, tác sư”, cho nên tôi xem thấy tám chữ này liền liên tưởng đến. Nhà Nho giáo huấn đối với chúng ta “tác vi quân, tác vi thân, tác vi sư”, chúng ta không thể xem câu này với nghĩa hẹp câu nói này đại khái là Khổng Tử kỳ vọng đối với người lãnh đạo quốc gia mà không liên quan gì với dân chúng thông thường chúng ta, vậy thì hiểu sai rồi. Giáo học của Nho và Phật là đối với tất cả chúng sanh không phân biệt giai cấp, không phân biệt nam nữ, không phân biệt già trẻ, không phân biệt nghề nghiệp, hy vọng mỗi một người đều biết được “tác quân, tác thân, tác sư”. “Quân” là gì vậy? Là người lãnh đạo rất tốt. Người lãnh đạo rất tốt cần cụ bị điều kiện gì? Nhân từ! Đối với những người cấp dưới của mình phải chân thành quan tâm họ, chân thành thương yêu họ, chân thành chỉ đạo họ thì bạn là người lãnh đạo tốt. Đồng thời bạn cũng phải là người thân, phải dùng cái tâm của cha mẹ để thương yêu cấp dưới của bạn, cho nên Trung Quốc thời xưa thủ trưởng chính phủ địa phương gọi là quan phụ mẫu. Ý nghĩa không như nhau, hiện tại làm quan thời đại dân chủ gọi là gì? Người đầy tớ của dân, là người hầu; làm quan là người hầu, lão bá tánh là chủ nhân. Quan hệ chủ-bộc, thì người hầu có lúc cũng gạt người chủ, không thấy được chân thật hiếu trung với bạn, quan tâm với bạn. Thế nhưng cha mẹ thương yêu với con cái thì không hề có điều kiện, cho nên chúng ta vẫn hy vọng người làm quan là cha mẹ của chúng ta, không nên là người hầu trong nhà chúng ta, người hầu thật không đáng tin, vẫn là cha mẹ đáng tin hơn nhiều so với người hầu. Cho nên phải là người thân làm cái tâm của cha mẹ, còn phải làm cái tâm của thầy giáo, thầy giáo thương yêu học trò. Không luận là cái thân phận của chúng ta ngày nay như thế nào, chúng ta là một công dân cấp thấp cũng phải làm được ba điều kiện này. Tuy là không có địa vị, chức vụ nhưng cũng phải có ba cái tâm này để làm sức ảnh hưởng, ảnh hưởng đồng liêu, đồng sự của chính chúng ta, ảnh hưởng bạn bè của chúng ta, ảnh hưởng người mà chúng ta quen biết, sau đó mở rộng có thể ảnh hưởng đến xã hội, người người đều có thể phát tâm “tác thân, tác sư, tác quân”, đây gọi là chân thật tùy hỷ công đức. Vậy lợi ích đối với người làm việc công đức lợi ích làm gì có chướng ngại, không những không có chướng ngại trái lại sẽ toàn tâm toàn lực tán thán giúp đỡ, không có sức mạnh tán trợ thì cũng sẽ tán thán. Việc này có thể ảnh hưởng đại chúng xã hội cùng nhau phát triển, mang đến cho xã hội lợi ích chân thật.
Việc thiện-ác ở thế gian thật quá nhiều vì sao Phật đặc biệt nêu ra tùy hỷ công đức? Thật tế mà nói ý nghĩa của điều này rất sâu. Phật biết được phiền não tập khí của tất cả chúng sanh là tích lũy từ vô lượng kiếp mà mỗi một chúng sanh đều có, tập khí gì vậy? Là tham sân si mạn, ngạo mạn đố kỵ, những tập khí này mang theo từ lúc mới sanh mà không cần người dạy. Bạn tỉ mỉ mà quan sát, bạn quan sát trẻ thơ mấy tháng tuổi chưa biết nói chuyện, tập trung hai đứa trẻ gần bằng tuổi nhau lại, một đứa trẻ có kẹo ăn còn một đứa kia không có kẹo ăn thì cái tâm đố kỵ của nó liền nổi lên, bạn xem ai dạy chúng vậy? Không có ai dạy chúng. Tùy hỷ công đức chính là đối trị tâm ngạo mạn, đặc biệt là đối trị tâm đố kỵ. Đố kỵ ngạo mạn là tạo tội nghiệp cực trọng, chỉ khoảng một niệm chuyển đổi liền biến thành vô lượng công đức, giữa khoảng một niệm chuyển đổi lại chính là công đức. Phật cùng phàm phu khác biệt ở ngay chỗ này, chúng sanh thì không thể chuyển được cứ tùy theo phiền não mà trôi lăn trong sanh-tử sáu cõi, còn chư Phật, Bồ Tát chỉ trong khoảng một niệm chuyển đổi lại thì thành tựu vô lượng vô biên công đức. Cho nên chúng ta phải học cách chuyển, chuyển được rất mau, sau khi chuyển lại rồi thì người ta tu tích công đức bao lớn, bạn tùy hỷ công đức thì cũng lớn như người ta vậy, quyết định không có khác biệt. Tuyệt đối không thể nói con người này tu tích công đức thì công đức của họ lớn, còn ta tùy hỷ công đức thì công đức nhỏ, không hề có chuyện như vậy, nhất định là lớn như nhau. Người ta tu tích thật là rất khổ sở, bạn vừa tùy hỷ công đức thì cũng lớn như họ vậy, bạn thấy bạn chiếm được bao nhiêu lợi ích? Nếu bạn hiểu được cái đạo lý này, Phật dạy cho chúng ta, chúng ta có thể đem công đức của A Di Đà Phật chuyển biến thành công đức của chính mình. Cách chuyển như thế nào vậy? Y theo một bộ kinh này mà tu học thì được rồi. Ở trên kinh này Phật dạy cho chúng ta “thọ trì, đọc tụng, vì người diễn nói”, bạn chỉ cần đem ba câu nói này làm cho được thì bạn liền chuyển công đức từ trong vô lượng kiếp của A Di Đà Phật biến thành công đức của chính mình. Ngay trong lúc giảng dạy chúng ta cũng thường nói “đồng tâm, đồng nguyện, đồng đức, đồng hạnh” với A Di Đà Phật thì liền đem công đức của A Di Đà Phật chuyển biến thành công đức của chính mình, vậy mới là người thông minh bậc nhất trên thế giới. Nếu chúng ta tu hành mà không nhờ vào công đức của A Di Đà Phật mà chỉ dựa vào công đức của chính mình thì bạn phải tu đến kiếp nào? Chúng ta ở trong mấy mươi năm ngắn ngủi của đời này chỉ cần bạn hiểu được đạo lý này, hiểu được phương pháp này mà áp dụng vào trong việc tu hành của chúng ta thì ta sẽ có được công đức của A Di Đà Phật đã tu hành vô lượng kiếp. Trong kinh Hoa nghiêm nói “niệm kiếp viên dung” chúng ta chân thật có thể làm đến được. Cho nên các vị không nên xem thường bỏ lỡ cái cơ hội này, nhất định phải nắm lấy cái cơ hội này, ngay trong một đời thành tựu công đức cứu cánh viên mãn. Bạn xem cư sĩ Lý Mộc Nguyên xây dựng cái đạo tràng này, mời pháp sư đến giảng giải đã tốn biết bao hơi sức, đó là công đức của ông ấy. Hôm nay chúng ta đến nơi đây tùy hỷ thì công đức viên mãn của ông ấy chúng ta thảy đều có được. Chúng ta giới thiệu mấy người bạn bè thân thích đến nơi đây nghe kinh, bạn cũng chính là lợi dụng cái đạo tràng này, lợi dụng cái cơ duyên này của cư sĩ Lý Mộc Nguyên bạn độ được mấy người làm Phật, bạn nói xem công đức của bạn lớn hay không? Thật là độ họ đi làm Phật. Họ ngay trong đời này có thể y giáo tu hành có thể được vãng sanh hay không đó là một việc riêng. Việc đó không hề gì, chỉ cần đến cái đạo tràng này thấy được Phật tượng, nghe được một - hai câu kinh văn, một khi đã nghe qua tai thì mãi mãi đã trồng thiện căn hạt giống kim cang vĩnh viễn không hư hoại; sẽ có một ngày gặp được duyên khởi hiện hành, tương lai họ niệm Phật vãng sanh làm Phật, nghĩ lại cái nhân ban đầu là do một người nào đó độ ta. Đó gọi là hiểu được làm thế nào để tu tùy hỷ công đức.
(Trích Đoạn Khai Thị của Pháp sư Tịnh Không)
144. Chúng ta nhất định phải làm từ chính bản thân mình, làm ra một cái gương tốt mới có thể giáo hóa chúng sanh. Cho nên chúng ta ngày nay ở trên toàn thế giới, ở bất cứ nơi nào hoằng dương Phật pháp, chúng ta có một tổng đề mục, có một tổng mục tiêu, một phương hướng chính là “học vi nhân sư, hành vi thế phạm”. Chúng ta rất rõ ràng rất tường tận cả thảy Phật pháp Đại Thừa đều không ngoài hai câu này. “Tác sư”, “Sư” là gương mẫu, tuyệt nhiên không phải nói người xuất gia gọi là pháp sư phải tác sư, đó là lý đương nhiên. Mỗi một vị đồng tu ở tại giai đều phải tác sư, tác phạm. Ở ngay trong cương vị công tác hiện tại của chúng ta, ngay trong đời sống hiện tiền của chúng ta phải làm ra tấm gương tốt cho đại chúng, đó chính là tác sư, tác phạm. Chư Phật, Bồ Tát là tấm gương tốt nhất cho tất cả chúng sanh trong chín pháp giới, là mô phạm tốt nhất, chúng ta phải hiểu được cái ý này. Ngày trước tôi đã nói qua với các vị đồng tu, đã từng có người hỏi qua tôi là cha mẹ hiện tại rất khó quản giáo con cái, con cái không nghe lời cha mẹ; học trò trong trường học không nghe lời thầy giáo, thầy giáo dạy học rất khổ; ở trong xã hội công nhân không nghe lời ông chủ, hiện tại ở trên toàn thế giới các khu vực phổ biến đều có thể xem thấy, đó là một vấn đề lớn nghiêm trọng trong xã hội.
Trên toàn thế giới có rất nhiều người lãnh đạo có trí tuệ thông minh, trong giới học thuật, nhà xí nghiệp trong giới công thương nghiệp, các lãnh đạo tôn giáo, đều đang tìm cầu phương pháp giải quyết vấn đề xã hội ngày nay. Rốt cuộc lỗi lầm là do đâu? Vào năm trước ở trường đại học sư phạm Bắc Kinh, tôi xem thấy trong trường học có đề tám chữ này đó là “học vi nhân sư, thân vi thế phạm”. Thế nhưng thời gian tôi ở trong trường không lâu, ngay trong lúc tiếp đón tôi đã nói qua mấy câu này. Cổ thánh tiên hiền Trung Quốc dạy bảo chúng ta “tác thân, tác quân, tác sư”, cho nên tôi xem thấy tám chữ này liền liên tưởng đến. Nhà Nho giáo huấn đối với chúng ta “tác vi quân, tác vi thân, tác vi sư”, chúng ta không thể xem câu này với nghĩa hẹp câu nói này đại khái là Khổng Tử kỳ vọng đối với người lãnh đạo quốc gia mà không liên quan gì với dân chúng thông thường chúng ta, vậy thì hiểu sai rồi. Giáo học của Nho và Phật là đối với tất cả chúng sanh không phân biệt giai cấp, không phân biệt nam nữ, không phân biệt già trẻ, không phân biệt nghề nghiệp, hy vọng mỗi một người đều biết được “tác quân, tác thân, tác sư”. “Quân” là gì vậy? Là người lãnh đạo rất tốt. Người lãnh đạo rất tốt cần cụ bị điều kiện gì? Nhân từ! Đối với những người cấp dưới của mình phải chân thành quan tâm họ, chân thành thương yêu họ, chân thành chỉ đạo họ thì bạn là người lãnh đạo tốt. Đồng thời bạn cũng phải là người thân, phải dùng cái tâm của cha mẹ để thương yêu cấp dưới của bạn, cho nên Trung Quốc thời xưa thủ trưởng chính phủ địa phương gọi là quan phụ mẫu. Ý nghĩa không như nhau, hiện tại làm quan thời đại dân chủ gọi là gì? Người đầy tớ của dân, là người hầu; làm quan là người hầu, lão bá tánh là chủ nhân. Quan hệ chủ-bộc, thì người hầu có lúc cũng gạt người chủ, không thấy được chân thật hiếu trung với bạn, quan tâm với bạn. Thế nhưng cha mẹ thương yêu với con cái thì không hề có điều kiện, cho nên chúng ta vẫn hy vọng người làm quan là cha mẹ của chúng ta, không nên là người hầu trong nhà chúng ta, người hầu thật không đáng tin, vẫn là cha mẹ đáng tin hơn nhiều so với người hầu. Cho nên phải là người thân làm cái tâm của cha mẹ, còn phải làm cái tâm của thầy giáo, thầy giáo thương yêu học trò. Không luận là cái thân phận của chúng ta ngày nay như thế nào, chúng ta là một công dân cấp thấp cũng phải làm được ba điều kiện này. Tuy là không có địa vị, chức vụ nhưng cũng phải có ba cái tâm này để làm sức ảnh hưởng, ảnh hưởng đồng liêu, đồng sự của chính chúng ta, ảnh hưởng bạn bè của chúng ta, ảnh hưởng người mà chúng ta quen biết, sau đó mở rộng có thể ảnh hưởng đến xã hội, người người đều có thể phát tâm “tác thân, tác sư, tác quân”, đây gọi là chân thật tùy hỷ công đức. Vậy lợi ích đối với người làm việc công đức lợi ích làm gì có chướng ngại, không những không có chướng ngại trái lại sẽ toàn tâm toàn lực tán thán giúp đỡ, không có sức mạnh tán trợ thì cũng sẽ tán thán. Việc này có thể ảnh hưởng đại chúng xã hội cùng nhau phát triển, mang đến cho xã hội lợi ích chân thật.
Việc thiện-ác ở thế gian thật quá nhiều vì sao Phật đặc biệt nêu ra tùy hỷ công đức? Thật tế mà nói ý nghĩa của điều này rất sâu. Phật biết được phiền não tập khí của tất cả chúng sanh là tích lũy từ vô lượng kiếp mà mỗi một chúng sanh đều có, tập khí gì vậy? Là tham sân si mạn, ngạo mạn đố kỵ, những tập khí này mang theo từ lúc mới sanh mà không cần người dạy. Bạn tỉ mỉ mà quan sát, bạn quan sát trẻ thơ mấy tháng tuổi chưa biết nói chuyện, tập trung hai đứa trẻ gần bằng tuổi nhau lại, một đứa trẻ có kẹo ăn còn một đứa kia không có kẹo ăn thì cái tâm đố kỵ của nó liền nổi lên, bạn xem ai dạy chúng vậy? Không có ai dạy chúng. Tùy hỷ công đức chính là đối trị tâm ngạo mạn, đặc biệt là đối trị tâm đố kỵ. Đố kỵ ngạo mạn là tạo tội nghiệp cực trọng, chỉ khoảng một niệm chuyển đổi liền biến thành vô lượng công đức, giữa khoảng một niệm chuyển đổi lại chính là công đức. Phật cùng phàm phu khác biệt ở ngay chỗ này, chúng sanh thì không thể chuyển được cứ tùy theo phiền não mà trôi lăn trong sanh-tử sáu cõi, còn chư Phật, Bồ Tát chỉ trong khoảng một niệm chuyển đổi lại thì thành tựu vô lượng vô biên công đức. Cho nên chúng ta phải học cách chuyển, chuyển được rất mau, sau khi chuyển lại rồi thì người ta tu tích công đức bao lớn, bạn tùy hỷ công đức thì cũng lớn như người ta vậy, quyết định không có khác biệt. Tuyệt đối không thể nói con người này tu tích công đức thì công đức của họ lớn, còn ta tùy hỷ công đức thì công đức nhỏ, không hề có chuyện như vậy, nhất định là lớn như nhau. Người ta tu tích thật là rất khổ sở, bạn vừa tùy hỷ công đức thì cũng lớn như họ vậy, bạn thấy bạn chiếm được bao nhiêu lợi ích? Nếu bạn hiểu được cái đạo lý này, Phật dạy cho chúng ta, chúng ta có thể đem công đức của A Di Đà Phật chuyển biến thành công đức của chính mình. Cách chuyển như thế nào vậy? Y theo một bộ kinh này mà tu học thì được rồi. Ở trên kinh này Phật dạy cho chúng ta “thọ trì, đọc tụng, vì người diễn nói”, bạn chỉ cần đem ba câu nói này làm cho được thì bạn liền chuyển công đức từ trong vô lượng kiếp của A Di Đà Phật biến thành công đức của chính mình. Ngay trong lúc giảng dạy chúng ta cũng thường nói “đồng tâm, đồng nguyện, đồng đức, đồng hạnh” với A Di Đà Phật thì liền đem công đức của A Di Đà Phật chuyển biến thành công đức của chính mình, vậy mới là người thông minh bậc nhất trên thế giới. Nếu chúng ta tu hành mà không nhờ vào công đức của A Di Đà Phật mà chỉ dựa vào công đức của chính mình thì bạn phải tu đến kiếp nào? Chúng ta ở trong mấy mươi năm ngắn ngủi của đời này chỉ cần bạn hiểu được đạo lý này, hiểu được phương pháp này mà áp dụng vào trong việc tu hành của chúng ta thì ta sẽ có được công đức của A Di Đà Phật đã tu hành vô lượng kiếp. Trong kinh Hoa nghiêm nói “niệm kiếp viên dung” chúng ta chân thật có thể làm đến được. Cho nên các vị không nên xem thường bỏ lỡ cái cơ hội này, nhất định phải nắm lấy cái cơ hội này, ngay trong một đời thành tựu công đức cứu cánh viên mãn. Bạn xem cư sĩ Lý Mộc Nguyên xây dựng cái đạo tràng này, mời pháp sư đến giảng giải đã tốn biết bao hơi sức, đó là công đức của ông ấy. Hôm nay chúng ta đến nơi đây tùy hỷ thì công đức viên mãn của ông ấy chúng ta thảy đều có được. Chúng ta giới thiệu mấy người bạn bè thân thích đến nơi đây nghe kinh, bạn cũng chính là lợi dụng cái đạo tràng này, lợi dụng cái cơ duyên này của cư sĩ Lý Mộc Nguyên bạn độ được mấy người làm Phật, bạn nói xem công đức của bạn lớn hay không? Thật là độ họ đi làm Phật. Họ ngay trong đời này có thể y giáo tu hành có thể được vãng sanh hay không đó là một việc riêng. Việc đó không hề gì, chỉ cần đến cái đạo tràng này thấy được Phật tượng, nghe được một - hai câu kinh văn, một khi đã nghe qua tai thì mãi mãi đã trồng thiện căn hạt giống kim cang vĩnh viễn không hư hoại; sẽ có một ngày gặp được duyên khởi hiện hành, tương lai họ niệm Phật vãng sanh làm Phật, nghĩ lại cái nhân ban đầu là do một người nào đó độ ta. Đó gọi là hiểu được làm thế nào để tu tùy hỷ công đức.
(Trích Đoạn Khai Thị của Pháp sư Tịnh Không)
Trích Đoạn Khai Thị của Pháp sư Tịnh Không
143. Hôm nay chúng ta tiếp tục giới thiệu với các vị nguyện thứ năm “tùy hỷ công đức”, cái điều này vô cùng quan trọng. Trước tiên chúng ta phải nhận biết công đức là gì? Chỗ này không thể hàm hồ được. Chúng ta xem thấy rất nhiều đạo tràng phía trước để một cái thùng bên trên viết là “thùng công đức”, cho rằng cái gì? Tiền để vào trong đó thì có công đức. Vậy thì sai rồi, không hề có công đức! Đừng nói bạn quyên góp một ít tiền thì cho rằng đã có công đức? Thật ra không có công đức! Vào thời xưa, thời đại của Lương Võ Đế (Lương Võ Đế là người trong lịch sử Trung Quốc chúng ta nổi tiếng là một Phật giáo đồ kiền thành, là đại hộ pháp của nhà Phật chúng ta), khi ông còn đương chức đã xây cất 480 ngôi đạo tràng (ngày nay chúng ta gọi là Tự Viện), quy mô đều rất lớn khích lệ nhân dân xuất gia. Ông xem thấy người xuất gia thì rất hoan hỷ, khích lệ mọi người xuất gia, cho nên độ chúng mấy trăm ngàn người. Chính ông cũng cảm thấy kêu ngạo “ô! việc này thật đáng tự hào”, làm được công đức lớn như vậy, cảm thấy kêu ngạo. Chính vào ngay lúc này Bồ Đề Đạt Ma đi đến Trung Quốc, chính là Tổ Sư của Thiền Tông (Bồ Đề Đạt Ma). Sau khi đến Trung Quốc nghe được quốc vương của Trung Quốc nhiệt tâm hộ pháp như vậy, đương nhiên phải đến bái kiến. Lương Võ Đế cũng rất vui mừng yết kiến một vị Cao Tăng đến từ Ấn Độ, sau khi gặp mặt thì Lương Võ Đế liền nói với Đạt Ma Tổ Sư về công đức hộ pháp, thành tích hộ pháp của ông. Sau khi nói xong thì ông thỉnh giáo với Đạt Ma Tổ Sư, ông nói “công đức của tôi có lớn không?”. Đạt Ma Tổ Sư, con người này rất thẳng thắn không nói nhân tình với người, ông nói ra một lời thành thật “không có công đức gì!”. Nói ra câu nói này khiến cho Lương Võ Đế không chịu nổi, Lương Võ Đế nghe rồi rất là không vui, cho nên Lương Võ Đế không hộ pháp cho ông, làm cho ông phải đi đến chùa Thiếu Lâm quay mặt vào vách 9 năm để đợi Ngài Huệ Khả. Lời của Đạt Ma Tổ Sư có đúng hay không? Đúng! Công đức cùng phước đức không như nhau, giả như Lương Võ Đế hỏi ông “phước đức tôi có lớn không?”. Thì Đạt Ma Tổ Sư nhất định sẽ nói “Thật lớn! Thật lớn! Ông tu phước báo thật quá lớn”.
Phước đức cùng công đức là có khác biệt, công đức là phải chính mình tu hành. Chúng ta nêu ra một thí dụ đơn giản: Trì giới có công, cái công mà bạn trì giới là có công phu, bạn trì giới có công phu được định chính là đức. Cho nên công là tu nhân, đức là chứng quả, bạn được định rồi vậy mới gọi là công đức. Nếu như giới luật bạn giữ được rất tốt rất nghiêm thế nhưng không thể được định, bạn chưa được định thì việc trì giới của bạn là phước đức vẫn không phải công đức. Bạn trì giới chưa có công phu, bạn chỉ có được phước báo, bạn giữ giới mà được định thì giới luật này mới gọi là có công phu. Vì sao có một số người trì giới có thể được định, có một số người trì giới không thể được định? Ở trong đây chính là đúng pháp và không đúng pháp. Tu học đúng pháp thì mới có công, tu học không đúng pháp thì không có công, cái điểm này các bạn đồng tu không luận là tại gia hay xuất gia đều phải tường tận. Như vậy nhất định phải giữ giới luật, giữ giới mới tương ưng, không giữ giới thì không tương ưng. Vậy làm sao được gọi là công phu chứ? Lục Tổ Đại Sư Huệ Năng dạy người, đặc biệt dạy người trì giới một mực dặn bảo chúng ta “nếu là người chân chánh tu hành, thì không thấy lỗi thế gian”, thì bạn có công phu. Giới luật của ta trì được rất tốt, xem thấy người khác không trì giới thì sanh tâm khinh mạn xem thường người ta, chính mình cống cao ngã mạn, bạn xem trì giới như thế thì được kết quả gì? Được cái cống cao ngã mạn. Người ta trì giới thì được định, từ định khai huệ, còn họ trì giới thì được cái cống cao ngã mạn, vậy thì thành ra thứ gì, thì làm gì có được công phu chứ? Thế nhưng sự trì giới đó có tốt hay không? Là việc tốt! Sự trì giới đó là phước đức, họ đã tu phước hữu lậu trong tam giới sáu đường. Tôi xin nói với các vị là tôi không có nói phước báo nhân-thiên, mà tôi nói là phước báo hữu lậu trong sáu đường, vì sao vậy? Không thấy được phước báo của họ hưởng được ở nhân gian. Việc này chúng ta phải hiểu, nếu như họ không có được cái thân người mà họ được cái thân súc sanh, được cái thân ngạ quỷ đều là hưởng phước. Bạn thấy trong đường súc sanh, người nước ngoài nuôi vật cưng, phước báo của nó thật lớn chúng ta làm sao có thể bì với nó chứ. Người cả nhà đều hầu hạ nó xem nó như là bảo bối vậy, nó là chủ của cả nhà. Chúng ta còn kém xa so với nó, chúng ta một người quan tâm cũng không có. Loài vật cưng đó (súc sanh) là do đời trước đã tu phước. Phước báo trong cõi quỷ cũng không nhỏ, chúng ta đã xem thấy rất nhiều nơi ở trong nhân gian Trung Quốc chúng ta cúng bái những quỷ thần này. Bên cạnh cư sĩ Lâm dường như có một cái miếu thờ Đại Bá Công, đó chính là trong cõi quỷ có phước báo. Sơn thần, thổ địa, thần hoàng đều là cõi ngạ quỷ, họ đã tu phước nên ở trong cõi ngạ quỷ hưởng phước. Cho nên Phật nói với chúng ta nhất định phải tu tích công đức, trong công đức tự nhiên có phước đức, trong phước đức không có công đức, vẫn là công đức tốt.
Công đức phải tu bằng cách nào? Kinh này của chúng ta hay, kinh này đích thật là đệ nhất kinh mà Thế Tôn 49 năm đã nói; Hoa nghiêm vẫn là hàng kế, còn kinh này chân thật là kinh đệ nhất, trên đề kinh đã nói với chúng ta “Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác”. Hay nói cách khác, tu học của chúng ta phải tương ưng với “Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác” chính là công đức. Chúng ta trì giới, ngay trong giới được tâm thanh tịnh, được tâm bình đẳng thì giới của bạn liền có công. Tâm thanh tịnh chính là định, tu định có công, khai trí tuệ chính là đức, tu định nếu không thể khai trí tuệ thì cái định đó cũng là phước báo. Thế nhưng các vị phải nên biết phước của định cùng phước của giới không như nhau, phước của định lớn hơn phước của giới rất nhiều. Phước của giới có ở trong tam thiện đạo và tam ác đạo, trong tam thiện đạo thì chỉ được hưởng từ cõi trời Đao Lợi, trời Tứ Thiên Vương, cõi A-tu-la và cõi người; còn trong tam ác đạo thì chỉ có địa ngục là không có hưởng phước, còn đường ngạ quỷ, đường súc sanh đều có hưởng phước, đó là phước của giới. Phước của định không ở ác đạo, ít nhất phải ở cõi trời Dạ Ma trở lên. Bạn tu định trong định không thể khai trí tuệ thì chỉ có phước báo, phước báo từ cõi trời Dạ Ma mãi đến cõi trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ đó đều là phước báo của định. Tu định được phước báo không phải công đức, tu định muốn được công đức thì phải khai trí tuệ, nếu khai trí tuệ thì quyết định siêu việt tam giới vĩnh thoát luân hồi, đó là tu định có công. Cho nên “công đức” chúng ta nhất định phải hiểu được rõ tường tận thông suốt thấu đáo.
Chúng ta xem thấy người ta tu tích công đức, thông thường người thế gian khởi lên ý niệm gì? Là đố kỵ! Xem thấy người khác tốt hơn mình trong lòng liền khó chịu, liền bực bội, nghĩ ra hết cách để chướng ngại, thậm chí còn nghĩ ra cách để phá hoại, phá hoại người tu hành, cái tội lỗi này rất lớn. Còn có một loại Bồ Tát tu tích công đức, Bồ Tát thị hiện ở ngay trong quần chúng xã hội nam nữ, già trẻ, việc họ làm hiện tại chúng ta gọi là việc từ thiện xã hội. Thế nhưng Bồ Tát đã làm việc từ thiện xã hội cùng người thế gian chúng ta làm việc từ thiện xã hội trong đó lại phải có một chút khác biệt, khác biệt ở đâu vậy? Các vị phải tỉ mỉ mà quan sát thì bạn mới có thể thấu hiểu. Bồ Tát tu tích làm việc từ thiện xã hội sau cùng giúp cho họ phá mê khai ngộ, đó chính là đã làm công đức. Nếu như chỉ là làm việc từ thiện xã hội mà không dạy họ phá mê khai ngộ, đó là thuộc về phước đức. Tại vì sao đối với chúng sanh trước phải dùng từ thiện cứu tế để giúp đỡ người? Đó là tứ nhiếp pháp của Phật, phương tiện nhiếp thọ chúng sanh. Ở trên kinh Phật cũng tường tận dạy cho chúng ta “tiên dĩ lợi dục câu, hậu linh nhập Phật trí”. Bạn thấy Phật từ bi đến tột đỉnh. Người thế gian nếu bạn bảo họ đến học Phật thì họ lắc đầu không đến, bạn mời họ đến ăn cơm thì họ rất vui mừng lập tức liền đến. Ăn cơm xong mới bảo họ học Phật vậy thì tương đối dễ dàng, vì sao vậy? Đã nhận ân huệ rồi nếu không nghe thì rất khó coi, luôn là không thể ăn xong rồi thì đi. Cho nên nhà Phật dùng loại từ thiện này “bố thí, ái ngữ, đồng sự, lợi hành” đều là nhiếp thọ chúng sanh. Sau đó nói rõ cho họ chân tướng của vũ trụ nhân sanh, nói rõ chân tướng của chính chúng ta cùng hoàn cảnh sinh hoạt của chính mình, sau khi hiểu rõ chân tướng thì họ quay đầu là bờ. Cách làm này nếu như chấp tướng mà làm thì người làm vẫn là tu phước, nếu như là rời tướng không chấp tướng “tam luân thể không” thì người làm công việc này đó là công đức. Đó là lấy lợi ích chúng sanh làm công đức, do nhân giới được định, đó là công đức tu học của chính mình.
Hai loại công đức này đều sẽ bị người đố kỵ, đều sẽ bị người làm chướng ngại. Cho nên ngay khi chúng ta tu tích phải có trí tuệ cao độ, phải có phương tiện khéo léo, địa vị của chúng ta càng thấp càng tốt. Khi đối đãi với bất cứ người nào cho dù là người phê bình chúng ta, người phỉ báng chúng ta, người làm chướng ngại chúng ta, người phá hoại chúng ta, thì chúng ta cũng phải dùng tâm chân thành cung kính đối đãi với họ, làm cho họ dần dần có thể bị cảm động, có thể giác ngộ, có thể quay đầu đem những ác duyên này đều chuyển biến thành thiện duyên, đem những việc ác này đều chuyển biến thành công đức chân thật, đó gọi là tùy hỷ.
(Trích Đoạn Khai Thị của Pháp sư Tịnh Không)
143. Hôm nay chúng ta tiếp tục giới thiệu với các vị nguyện thứ năm “tùy hỷ công đức”, cái điều này vô cùng quan trọng. Trước tiên chúng ta phải nhận biết công đức là gì? Chỗ này không thể hàm hồ được. Chúng ta xem thấy rất nhiều đạo tràng phía trước để một cái thùng bên trên viết là “thùng công đức”, cho rằng cái gì? Tiền để vào trong đó thì có công đức. Vậy thì sai rồi, không hề có công đức! Đừng nói bạn quyên góp một ít tiền thì cho rằng đã có công đức? Thật ra không có công đức! Vào thời xưa, thời đại của Lương Võ Đế (Lương Võ Đế là người trong lịch sử Trung Quốc chúng ta nổi tiếng là một Phật giáo đồ kiền thành, là đại hộ pháp của nhà Phật chúng ta), khi ông còn đương chức đã xây cất 480 ngôi đạo tràng (ngày nay chúng ta gọi là Tự Viện), quy mô đều rất lớn khích lệ nhân dân xuất gia. Ông xem thấy người xuất gia thì rất hoan hỷ, khích lệ mọi người xuất gia, cho nên độ chúng mấy trăm ngàn người. Chính ông cũng cảm thấy kêu ngạo “ô! việc này thật đáng tự hào”, làm được công đức lớn như vậy, cảm thấy kêu ngạo. Chính vào ngay lúc này Bồ Đề Đạt Ma đi đến Trung Quốc, chính là Tổ Sư của Thiền Tông (Bồ Đề Đạt Ma). Sau khi đến Trung Quốc nghe được quốc vương của Trung Quốc nhiệt tâm hộ pháp như vậy, đương nhiên phải đến bái kiến. Lương Võ Đế cũng rất vui mừng yết kiến một vị Cao Tăng đến từ Ấn Độ, sau khi gặp mặt thì Lương Võ Đế liền nói với Đạt Ma Tổ Sư về công đức hộ pháp, thành tích hộ pháp của ông. Sau khi nói xong thì ông thỉnh giáo với Đạt Ma Tổ Sư, ông nói “công đức của tôi có lớn không?”. Đạt Ma Tổ Sư, con người này rất thẳng thắn không nói nhân tình với người, ông nói ra một lời thành thật “không có công đức gì!”. Nói ra câu nói này khiến cho Lương Võ Đế không chịu nổi, Lương Võ Đế nghe rồi rất là không vui, cho nên Lương Võ Đế không hộ pháp cho ông, làm cho ông phải đi đến chùa Thiếu Lâm quay mặt vào vách 9 năm để đợi Ngài Huệ Khả. Lời của Đạt Ma Tổ Sư có đúng hay không? Đúng! Công đức cùng phước đức không như nhau, giả như Lương Võ Đế hỏi ông “phước đức tôi có lớn không?”. Thì Đạt Ma Tổ Sư nhất định sẽ nói “Thật lớn! Thật lớn! Ông tu phước báo thật quá lớn”.
Phước đức cùng công đức là có khác biệt, công đức là phải chính mình tu hành. Chúng ta nêu ra một thí dụ đơn giản: Trì giới có công, cái công mà bạn trì giới là có công phu, bạn trì giới có công phu được định chính là đức. Cho nên công là tu nhân, đức là chứng quả, bạn được định rồi vậy mới gọi là công đức. Nếu như giới luật bạn giữ được rất tốt rất nghiêm thế nhưng không thể được định, bạn chưa được định thì việc trì giới của bạn là phước đức vẫn không phải công đức. Bạn trì giới chưa có công phu, bạn chỉ có được phước báo, bạn giữ giới mà được định thì giới luật này mới gọi là có công phu. Vì sao có một số người trì giới có thể được định, có một số người trì giới không thể được định? Ở trong đây chính là đúng pháp và không đúng pháp. Tu học đúng pháp thì mới có công, tu học không đúng pháp thì không có công, cái điểm này các bạn đồng tu không luận là tại gia hay xuất gia đều phải tường tận. Như vậy nhất định phải giữ giới luật, giữ giới mới tương ưng, không giữ giới thì không tương ưng. Vậy làm sao được gọi là công phu chứ? Lục Tổ Đại Sư Huệ Năng dạy người, đặc biệt dạy người trì giới một mực dặn bảo chúng ta “nếu là người chân chánh tu hành, thì không thấy lỗi thế gian”, thì bạn có công phu. Giới luật của ta trì được rất tốt, xem thấy người khác không trì giới thì sanh tâm khinh mạn xem thường người ta, chính mình cống cao ngã mạn, bạn xem trì giới như thế thì được kết quả gì? Được cái cống cao ngã mạn. Người ta trì giới thì được định, từ định khai huệ, còn họ trì giới thì được cái cống cao ngã mạn, vậy thì thành ra thứ gì, thì làm gì có được công phu chứ? Thế nhưng sự trì giới đó có tốt hay không? Là việc tốt! Sự trì giới đó là phước đức, họ đã tu phước hữu lậu trong tam giới sáu đường. Tôi xin nói với các vị là tôi không có nói phước báo nhân-thiên, mà tôi nói là phước báo hữu lậu trong sáu đường, vì sao vậy? Không thấy được phước báo của họ hưởng được ở nhân gian. Việc này chúng ta phải hiểu, nếu như họ không có được cái thân người mà họ được cái thân súc sanh, được cái thân ngạ quỷ đều là hưởng phước. Bạn thấy trong đường súc sanh, người nước ngoài nuôi vật cưng, phước báo của nó thật lớn chúng ta làm sao có thể bì với nó chứ. Người cả nhà đều hầu hạ nó xem nó như là bảo bối vậy, nó là chủ của cả nhà. Chúng ta còn kém xa so với nó, chúng ta một người quan tâm cũng không có. Loài vật cưng đó (súc sanh) là do đời trước đã tu phước. Phước báo trong cõi quỷ cũng không nhỏ, chúng ta đã xem thấy rất nhiều nơi ở trong nhân gian Trung Quốc chúng ta cúng bái những quỷ thần này. Bên cạnh cư sĩ Lâm dường như có một cái miếu thờ Đại Bá Công, đó chính là trong cõi quỷ có phước báo. Sơn thần, thổ địa, thần hoàng đều là cõi ngạ quỷ, họ đã tu phước nên ở trong cõi ngạ quỷ hưởng phước. Cho nên Phật nói với chúng ta nhất định phải tu tích công đức, trong công đức tự nhiên có phước đức, trong phước đức không có công đức, vẫn là công đức tốt.
Công đức phải tu bằng cách nào? Kinh này của chúng ta hay, kinh này đích thật là đệ nhất kinh mà Thế Tôn 49 năm đã nói; Hoa nghiêm vẫn là hàng kế, còn kinh này chân thật là kinh đệ nhất, trên đề kinh đã nói với chúng ta “Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác”. Hay nói cách khác, tu học của chúng ta phải tương ưng với “Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác” chính là công đức. Chúng ta trì giới, ngay trong giới được tâm thanh tịnh, được tâm bình đẳng thì giới của bạn liền có công. Tâm thanh tịnh chính là định, tu định có công, khai trí tuệ chính là đức, tu định nếu không thể khai trí tuệ thì cái định đó cũng là phước báo. Thế nhưng các vị phải nên biết phước của định cùng phước của giới không như nhau, phước của định lớn hơn phước của giới rất nhiều. Phước của giới có ở trong tam thiện đạo và tam ác đạo, trong tam thiện đạo thì chỉ được hưởng từ cõi trời Đao Lợi, trời Tứ Thiên Vương, cõi A-tu-la và cõi người; còn trong tam ác đạo thì chỉ có địa ngục là không có hưởng phước, còn đường ngạ quỷ, đường súc sanh đều có hưởng phước, đó là phước của giới. Phước của định không ở ác đạo, ít nhất phải ở cõi trời Dạ Ma trở lên. Bạn tu định trong định không thể khai trí tuệ thì chỉ có phước báo, phước báo từ cõi trời Dạ Ma mãi đến cõi trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ đó đều là phước báo của định. Tu định được phước báo không phải công đức, tu định muốn được công đức thì phải khai trí tuệ, nếu khai trí tuệ thì quyết định siêu việt tam giới vĩnh thoát luân hồi, đó là tu định có công. Cho nên “công đức” chúng ta nhất định phải hiểu được rõ tường tận thông suốt thấu đáo.
Chúng ta xem thấy người ta tu tích công đức, thông thường người thế gian khởi lên ý niệm gì? Là đố kỵ! Xem thấy người khác tốt hơn mình trong lòng liền khó chịu, liền bực bội, nghĩ ra hết cách để chướng ngại, thậm chí còn nghĩ ra cách để phá hoại, phá hoại người tu hành, cái tội lỗi này rất lớn. Còn có một loại Bồ Tát tu tích công đức, Bồ Tát thị hiện ở ngay trong quần chúng xã hội nam nữ, già trẻ, việc họ làm hiện tại chúng ta gọi là việc từ thiện xã hội. Thế nhưng Bồ Tát đã làm việc từ thiện xã hội cùng người thế gian chúng ta làm việc từ thiện xã hội trong đó lại phải có một chút khác biệt, khác biệt ở đâu vậy? Các vị phải tỉ mỉ mà quan sát thì bạn mới có thể thấu hiểu. Bồ Tát tu tích làm việc từ thiện xã hội sau cùng giúp cho họ phá mê khai ngộ, đó chính là đã làm công đức. Nếu như chỉ là làm việc từ thiện xã hội mà không dạy họ phá mê khai ngộ, đó là thuộc về phước đức. Tại vì sao đối với chúng sanh trước phải dùng từ thiện cứu tế để giúp đỡ người? Đó là tứ nhiếp pháp của Phật, phương tiện nhiếp thọ chúng sanh. Ở trên kinh Phật cũng tường tận dạy cho chúng ta “tiên dĩ lợi dục câu, hậu linh nhập Phật trí”. Bạn thấy Phật từ bi đến tột đỉnh. Người thế gian nếu bạn bảo họ đến học Phật thì họ lắc đầu không đến, bạn mời họ đến ăn cơm thì họ rất vui mừng lập tức liền đến. Ăn cơm xong mới bảo họ học Phật vậy thì tương đối dễ dàng, vì sao vậy? Đã nhận ân huệ rồi nếu không nghe thì rất khó coi, luôn là không thể ăn xong rồi thì đi. Cho nên nhà Phật dùng loại từ thiện này “bố thí, ái ngữ, đồng sự, lợi hành” đều là nhiếp thọ chúng sanh. Sau đó nói rõ cho họ chân tướng của vũ trụ nhân sanh, nói rõ chân tướng của chính chúng ta cùng hoàn cảnh sinh hoạt của chính mình, sau khi hiểu rõ chân tướng thì họ quay đầu là bờ. Cách làm này nếu như chấp tướng mà làm thì người làm vẫn là tu phước, nếu như là rời tướng không chấp tướng “tam luân thể không” thì người làm công việc này đó là công đức. Đó là lấy lợi ích chúng sanh làm công đức, do nhân giới được định, đó là công đức tu học của chính mình.
Hai loại công đức này đều sẽ bị người đố kỵ, đều sẽ bị người làm chướng ngại. Cho nên ngay khi chúng ta tu tích phải có trí tuệ cao độ, phải có phương tiện khéo léo, địa vị của chúng ta càng thấp càng tốt. Khi đối đãi với bất cứ người nào cho dù là người phê bình chúng ta, người phỉ báng chúng ta, người làm chướng ngại chúng ta, người phá hoại chúng ta, thì chúng ta cũng phải dùng tâm chân thành cung kính đối đãi với họ, làm cho họ dần dần có thể bị cảm động, có thể giác ngộ, có thể quay đầu đem những ác duyên này đều chuyển biến thành thiện duyên, đem những việc ác này đều chuyển biến thành công đức chân thật, đó gọi là tùy hỷ.
(Trích Đoạn Khai Thị của Pháp sư Tịnh Không)
1. Điều quan trọng nhất là giữ cho tâm thanh tịnh, trong đời sống thường ngày phải biết giữ gìn tâm thanh tịnh, đây là đời sống có sức khỏe nhất. Bạo ăn bạo uống thì chắc chắn tổn hại sức khỏe. Chúng ta nhất định phải biết, ăn uống được là phải nhờ vào tiêu hóa, tiêu hóa chính là công năng của mỗi cơ quan trong nội tạng của chúng ta, nó đang vận chuyển làm việc trong đó. Nếu như ăn quá nhiều thì sức làm việc của nó nhiều, nó gánh vác rất nặng. Cho nên cơ quan này vốn dĩ có thể dùng được một, hai trăm năm, còn bạn mới năm, sáu mươi năm nó đã già yếu rồi, nó không thể sử dụng được nữa. Khi cơ quan không thể phát sinh tác dụng được nữa, thì đây chính là đại bệnh nghiêm trọng vậy, sao có thể không chết sớm cho được chứ! Cho nên nếu chúng ta quí trọng mỗi cơ quan trong cơ thể, thì nhất định phải biết không được để những cơ quan này làm việc vượt quá sức của nó. Làm việc vượt quá sức của nó là tạo sức ép cho nó, là có lỗi với nó. Chúng ta yêu quí nó, tốt nhất là để nó làm việc trong phạm vi sức của mình, thì nó làm việc rất thoải mái, nó làm việc rất thông suốt, vậy nó không khỏe sao được chứ? Chúng ta hãy suy nghĩ nhiều về những đạo lý này, liền biết ăn uống đơn giản là có lợi ích rất lớn đối với đạo trường sinh, đều có ảnh hưởng rất lớn đối với tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm từ bi. Sinh lý và tâm lý là hai mặt của một thể, là không thể tách rời.
2. Niệm một câu A Di Đà Phật này nhằm đắc tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh có thật sự đạt được hay chưa? Tâm thanh tịnh là nhất niệm bất sanh (một niệm không sanh), đó là tâm thanh tịnh. Trong tâm vẫn còn khởi tâm động niệm, tâm ấy chẳng thanh tịnh. Nếu trong tâm còn có vọng niệm tơi bời, đời này chúng ta niệm Phật sẽ không thể thành tựu, chỉ có thể nói là kết thiện duyên với Tây Phương Cực Lạc thế giới mà thôi! Đời này có thể vãng sanh hay không? Chẳng thể vãng sanh. Quý vị muốn vãng sanh thì tâm nhất định phải thanh tịnh. Tâm không thanh tịnh, làm sao có thể vãng sanh?
Do vậy, chúng ta phải dùng một câu A Di Đà Phật để niệm cho hết tập khí (thói quen) vọng tưởng từ vô thỉ kiếp đến nay, niệm cho dứt những tập khí vọng tưởng ấy. Nhưng tập khí vọng tưởng luôn dấy lên hiện hành, đây là chuyện phiền phức, nhất định phải đề cao cảnh giác.
3. Tâm địa đã thật sự thanh tịnh rồi, người ấy vừa nghe pháp, vừa tiếp xúc Phật pháp, sẽ khai ngộ, pháp hỷ sung mãn. Quý vị tiếp xúc Phật pháp mà chẳng khai ngộ là do tâm chẳng thanh tịnh. Tâm thanh tịnh chẳng thể không khai ngộ. Do vậy, quý vị ngàn vạn phần đừng nên bứt rứt vì chuyện cũ, đừng nên nghĩ tới những tội nghiệp trước kia. Vì quý vị càng nghĩ đến, tâm quý vị chắc chắn chẳng thanh tịnh. Chúng ta niệm Phật nhằm mong cầu công phu thành phiến, nhất tâm bất loạn; suốt ngày suy nghĩ loạn xạ, làm sao thành phiến cho được? Công phu chẳng thể thành phiến, cũng chẳng đạt được nhất tâm.
4. Thế gian này bạn hưởng thụ vinh hoa phú quý, nói cho bạn biết, trên thực tế đó là giả chứ không phải thật. Vì sao vậy? Bạn có thể giữ vinh hoa phú quý được bao nhiêu lâu? Chúng ta hãy bình lặng mà quan sát, đọc lịch sử xem người xưa, bạn lại xem cuộc sống hiện tại những người đại phú đại quý, họ có thể giữ được bao nhiêu lâu? Có rất nhiều người khi trung niên thì phát đạt, khi già thì suy bại. Có người cũng không tệ lắm, có thể hưởng thụ được cả đời nhưng đến đời sau thì không còn nữa. Rất nhiều rất nhiều. Cho nên cổ đức xưa thường hay nói: “Phú quý không giữ được quá ba đời”. Đây là ngày trước, hiện tại trong một đời mình còn không giữ được, chúng tôi đã nhìn thấy rất nhiều, rất nhiều rồi. Đặc biệt là người làm quan lớn, đến những năm cuối đời thì cuộc sống rất đáng thương. Khi còn tại vị đương quyền (đây là ngày trước tôi đã thấy qua), có đến mười mấy người giúp việc trong nhà, hô một tiếng thì có bao nhiêu người dạ; đến khi về già, khi suy bại rồi, tự mình phải xách giỏ đi chợ mua rau. Tôi nghĩ, ngày trước ông ấy có nằm mơ cũng không thể nghĩ đến là ông sẽ ra nông nổi như ngày hôm nay. Rất nhiều người như vậy. Nguyên nhân là gì vậy? Trong đời quá khứ việc tu tích phước báo có hạn, khi bản thân hưởng phước mà lại không biết tu phước, hưởng phước và tạo ác nghiệp, đã làm tổn giảm phước báo, cho nên đã nhanh chóng hết phước. Lúc cuối đời, trong Phật pháp chúng ta gọi là hoa báo (quả báo hiện tại), cuối đời không tốt thì bạn liền biết được họ đời sau sẽ không tốt (hậu báo). Từ chỗ này bạn có thể nhìn thấy được đời sau của họ.
Người học Phật chúng ta thì không giống như vậy. Người học Phật biết được nhân quả ba đời (quá khứ, hiện tại và vị lai), chúng ta ở trong đời này nỗ lực tu tâm thanh tịnh, tu tâm thiện. Cho nên trong hai năm gần đây, tôi đặc biệt đề xuất “thuần tịnh thuần thiện”. Nhiều năm qua, chúng tôi đề xuất là chân thành - thanh tịnh - bình đẳng - chánh giác - từ bi. Hiện tại thì chúng ta lại nâng lên thêm một bậc, phải đem chân thành - thanh tịnh - bình đẳng - chánh giác - từ bi nâng lên thành “thuần tịnh, thuần thiện”, chúng ta nắm chắc phần vãng sanh thế giới Tây Phương Cực Lạc. Trên Kinh thì nói đó là quê nhà của chúng ta, nói đó là nhà của chính mình, là tình hình sinh sống ở ngôi nhà của mình. Vì thế, hiện tại chúng ta không cần phải tranh giành với người ở nơi này. Tranh giành với người ở đây thì chúng ta không thể về ngôi nhà này được. Tranh với họ để làm gì? Chúng ta được đại tự tại. Những ngày tháng này trải qua thật thoải mái, thật là tự tại.
5. Phương pháp tu hành trong Tịnh Độ cũng rất nhiều, Trì Danh (chuyên niệm A Di Đà Phật) là bậc nhất, đơn giản nhất, dễ dàng nhất, thẳng chóng nhất, ổn thỏa nhất. Nói thật ra, pháp này tương ứng với Thiền, mà cũng tương ứng với Mật. Niệm một câu A Di Đà Phật là Thiền, Tịnh, Mật Tam Tu. Quý vị đang tam tu mà chẳng biết! Vừa mở đầu, kinh Vô Lượng Thọ đã biểu thị pháp, ba ý nghĩa này hết sức rõ rệt, cho nên chẳng cần tu pháp nào khác! Quý vị nói: “Cách tu như thế nào?” Một câu A Di Đà Phật niệm đến cùng là được rồi, tới lúc đó, sẽ tự nhiên hiểu rõ, tự nhiên tâm khai ý giải, niệm tới mức cái tâm thanh tịnh, niệm tới nhất tâm bất loạn. Nhất tâm bất loạn là “minh tâm kiến tánh” trong Thiền Tông, là “tam mật tương ứng” trong Mật Tông, nhưng phương pháp [trì danh] này dễ hơn Thiền, mà cũng dễ hơn Mật, thành tựu hoàn toàn giống như Thiền và Mật. Vì thế, nó thật sự là một pháp môn chẳng thể nghĩ bàn.
6. Định là chuyên nhất, chúng ta quyết định chọn lấy pháp môn niệm phật, cả đời này quyết định chẳng thay đổi, tu một môn này đến cùng, đấy là Định. Chẳng xen tạp, chẳng gián đoạn là biểu hiện của Định. Quý vị tạp tu, sẽ chẳng có Định. Trong cuộc sống, trong một đời, chúng ta có thuận cảnh và nghịch cảnh. Cảnh giới thuận hay nghịch hiện tiền, chúng ta đều phải tiếp nhận. Khi chúng ta tiếp nhận, đừng nẩy sanh mừng, giận, buồn, vui, đó là trí huệ. Trong thuận cảnh, đừng dấy tâm hoan hỷ, trong nghịch cảnh chớ nên sanh phiền não, vì sao? Dấy lên mừng, giận, buồn, vui nơi cảnh giới, Phật hiệu (A Di Đà Phật) sẽ niệm chẳng thành, vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới cũng chẳng thành. Mục đích của chúng ta là Tây Phương Cực Lạc thế giới. Thuận cảnh nơi này dẫu tốt đẹp, ta chẳng tham ái, chúng chẳng giữ được chúng ta, chúng ta vẫn đến Cực Lạc. Trong nghịch cảnh, chúng ta chẳng dấy phiền não, chẳng khởi sân hận, chúng ta biết hoàn cảnh dẫu xấu đến mấy, cũng bất quá là ngắn ngủi mấy năm hay mấy chục năm sẽ qua đi, hoàn cảnh sau đấy sẽ rất tốt đẹp! Ngàn vạn phần chớ nên bị nghịch cảnh ngắn ngủi tạo thành chướng ngại, như vậy mới là có trí huệ.
7. Hướng đến quả báo Vô Thượng Bồ Đề, đó là nói “mục tiêu của chúng ta là thành Phật”. Chúng ta không mong thành Tạng Giáo Phật, cũng chẳng muốn thành Thông Giáo Phật, cũng không mong thành Biệt Giáo Phật, chúng ta muốn đạt đến rốt ráo viên mãn Phật, tức Viên Giáo Phật (Phật của Nhất Chân Pháp Giới). Nếu muốn thành tựu Viên Giáo Phật, quyết định phải cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, quyết định đạt được trong một đời, chẳng cần đợi đến đời thứ hai. Vì vậy, pháp môn niệm phật là pháp môn thành Phật ngay trong đời này, chẳng phải là pháp môn tầm thường.
8. Kinh nói giả thiết, đức Phật nói nếu còn có một pháp môn còn thù thắng hơn cực quả của Như Lai, chúng ta nghe xong sẽ như thế nào? Chúng ta nghe xong vẫn chẳng cần! Chuyên đến mức độ này! Hiện thời, phàm phu chúng ta sai sót ở chỗ này! Người ta bảo quý vị: “Còn có pháp hay hơn pháp Niệm Phật, thành tựu còn nhanh chóng hơn niệm Phật”. Tâm bị động ngay lập tức, chẳng cần A Di Đà Phật nữa, theo kẻ đó học pháp môn khác! Gió thổi, cỏ rạp, tín tâm dao động như vậy; kẻ tu học kiểu đó, bất luận tu học pháp môn nào cũng đều chẳng thể thành tựu. Do vậy, quyết định chẳng lay động. Đức Phật đến khuyên quý vị, Thích Ca Mâu Ni Phật đến trước mặt quý vị khuyên bảo: “Ta còn có một pháp môn hay hơn pháp môn niệm A Di Đà Phật”, chúng ta nghe xong bèn như thế nào? “Cám ơn Thích Ca Mâu Ni Phật, con nay niệm A Di Đà Phật đến cùng, chẳng mong đổi sang pháp môn khác”. Phải có tín tâm như vậy thì mới có thể thành công.
9. Tổ Ấn Quang là Cực Lạc Đại Thế Chí Bồ Tát hóa thân, lời lão nhân gia nói chính là lời Đại Thế Chí Bồ Tát nói. Đại Thế Chí Bồ Tát là Tịnh Tông Sơ Tổ (Sơ Tổ Pháp Môn Niệm Phật). Chúng ta đọc Đại Thế Chí Bồ Tát Viên Thông Chương của kinh Lăng Nghiêm, [sẽ thấy] Ngài thật sự chuyên, chuyên tới cùng cực. Từ sơ phát tâm mãi cho đến khi thành Phật, Ngài dùng phương pháp gì? Chính là một câu A Di Đà Phật, chuyên đến mức cùng cực. Chỉ là một câu A Di Đà Phật, từ sơ phát tâm cho đến khi thành Vô Thượng Đạo. Sau khi đã thành Vô Thượng Đạo, đến mười phương thế giới giáo hóa chúng sanh, Ngài vẫn dùng pháp môn niệm phật để tự hành, hóa độ người khác, vĩnh viễn không thay đổi! Từ hết thảy các kinh, chúng ta đã thấy: Lão nhân gia xác thực đúng là bậc nhất. Chuyện này đáng để chúng ta học tập theo, đáng cho chúng ta bắt chước. Chúng ta gặp gỡ bậc thiện tri thức như vậy mà nếu vẫn chẳng tin tưởng, đúng là Nhất Xiển Đề như kinh đã nói. Nhất Xiển Đề là chẳng có thiện căn. Gặp gỡ bậc đại thiện tri thức như vậy mà vẫn chẳng thể tin nhận, phụng hành!
10. Mọi người công nhận Văn Thù Bồ Tát trí huệ bậc nhất, Ngài là vị trí huệ bậc nhất trong các vị Bồ Tát; Văn Thù Bồ Tát chọn lựa pháp môn trì danh niệm Phật vãng sanh Tịnh Độ (Cực Lạc), chọn lựa bằng trí huệ! Ngày nay chúng ta cũng chọn lựa pháp môn niệm phật, chẳng khác gì Văn Thù Bồ Tát, Ngài chọn pháp này, ta cũng chọn pháp này! Ngoài chuyện chọn lựa này ra, ta thấy chúng ta chẳng có gì sánh bằng Văn Thù Bồ Tát! Những thứ khác chẳng sánh bằng không sao cả! Chỉ cần điều này chẳng sai khác cho mấy là được rồi, chắc chắn là khá lắm rồi! Do vậy, ta có thể biết: Chẳng chọn lựa pháp môn niệm phật tức là chẳng có trí huệ!
11. Ví như quý vị tốt số, đầu thai vào gia đình phú quý, cha quý vị đại phú, đại quý. Khi quý vị đi học, chính mình chẳng kiếm ra tiền, nhưng hoàn cảnh sống tốt đẹp nhất, ra khỏi cửa đi xe tốt nhất. Những thứ đó là của bố quý vị, chẳng phải là của quý vị, có ý nghĩa như thế đó. Chúng ta tới cõi ấy (cõi Cực Lạc), tất cả hết thảy sự hưởng thụ đều là hưởng thụ từ A Di Đà Phật, có ý nghĩa như thế ấy! Đợi đến khi chính mình đã đoạn Kiến Tư phiền não, đoạn Trần Sa Hoặc, đoạn Vô Minh, vô minh còn phải đoạn hơn ba mươi phẩm, [lần lượt chứng đắc các địa vị] Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng. Khi đã đạt đến Thất Địa, tức là đã đoạn ba mươi bảy phẩm vô minh, khi ấy, [sự hưởng thụ] là của chính quý vị. Khi quý vị chưa đạt đến mức độ ấy, [hết thảy thọ dụng trong Tây Phương Cực Lạc thế giới] là do Phật lực gia trì. Cũng giống như khi chính bản thân quý vị đã có năng lực, làm việc trong xã hội, cũng có thể kiếm tiền, hết thảy những gì quý vị thọ dụng là của chính mình, chẳng phải dựa dẫm vào cha nữa! Khi quý vị chẳng có năng lực ấy, hoàn toàn dựa dẫm cha, bèn có lợi ích như thế đó. Trong các thế giới chư Phật khác, chẳng có sự tốt đẹp này. Do vậy, [nếu ở trong các thế giới khác], quý vị đang trong giai đoạn tu học sẽ rất khổ sở, chẳng thể hưởng thụ tốt đẹp dường ấy! Vì vậy, sự thù thắng của thế giới Cực Lạc chẳng có bất cứ thế giới Phật nào có thể sánh bằng! Chúng ta ắt phải hiểu điều này thì tín tâm của chúng ta mới thanh tịnh, mới kiên định, niệm phật và nguyện lực mới thật sự khẩn thiết. Chẳng thể không đến cõi ấy!
(Pháp Sư Tịnh Không)
Ba Điều Cho Thấy Gia Đình Suy Vi & Bốn Điều Giúp Cho Gia Đình Hưng Vượng
------------
------------
Trong dân gian có câu: “Giàu không quá ba đời”. Rất nhiều gia tộc giàu có đều không “thoát” khỏi sự linh ứng của nó. Nhưng cũng có những gia đình không hề bị ảnh hưởng, thậm chí càng ngày càng hưng thịnh. Vậy sự khác biệt nằm ở chỗ nào?
Tăng Quốc Phiên, tiến sĩ triều Đạo Quang, giữ chức vụ Thị lang các bộ Binh, Lễ, Lại, Hình, đồng thời là một nhà Nho lỗi lạc đã nói rằng, một gia đình có hưng thịnh hay không chỉ cần nhìn vào ba điểm dưới đây là biết rõ:
Thứ nhất: Nhìn xem con cháu ngủ đến mấy giờ? Nếu như ngủ đến lúc mặt trời lên cao mới bắt đầu dậy thì gia đình này đang từ từ lười biếng mà đi xuống.
Thứ hai: Nhìn xem con cháu trong nhà có chăm chỉ làm việc hay không? Bởi vì thói quen làm việc sẽ ảnh hưởng đến cả đời của một người.
Thứ ba: Nhìn xem con cháu có thường đọc sách kinh điển của các bậc cao nhân thánh hiền hay không? Bởi vì người không học sẽ không hiểu nghĩa và không biết đạo lý.
Nhìn lại lịch sử có thể thấy, rất nhiều gia đình giàu có đều bị “linh nghiệm” bởi câu “giàu không quá ba đời” hay “thành đạt không quá ba đời”. Nhưng gia đình họ Tăng lại đời này tiếp nối đời sau mà sinh ra các bậc anh tài, những nhân vật kiệt xuất của lịch sử Trung Hoa.
Bí quyết của gia tộc họ Tăng “trường thịnh không suy” này là ở 4 câu di chúc do Tăng Quốc Phiên để lại.
1. Thận trọng thì trong tâm sẽ yên bình
Đạo lý tu dưỡng bản thân là phải hướng vào trong nội tâm. Trong nội tâm đã biết rõ thiện ác lại không thể tận lực hành thiện trừ ác thì chưa phải là thật tâm tu dưỡng. Chỉ chính mình mới biết rõ có đang tự lừa dối bản thân hay không, người ngoài nhìn khó thấy.
Mạnh Tử nói: “Trên không thẹn với trời, dưới không thẹn với lương tâm”. Cái gọi là dưỡng tâm, nhất định phải là “tâm thanh quả dục” (để tâm thanh tịnh, giảm bớt ham muốn dục vọng). Cho nên, người có thể tự thận trọng xét lại bản thân mình sẽ không bị cảm thấy áy náy.
Người nếu như không có việc gì phải áy náy thì khi đối mặt với quỷ thần, trời đất, thì thần sắc sẽ an nhiên, bình thản. Đây là phương thuốc tốt nhất, là việc lớn nhất của tu thân dưỡng tính, là đạo lý cần cố gắng đạt được trong đời người.
2. Cung kính thì thân thể sẽ khỏe mạnh
Trong nội tâm mà thuần khiết, bên ngoài chỉnh tề nghiêm túc, đây là công phu của “kính” (kính trọng, tôn kính, cung kính). Bước ra khỏi cửa giống như nhìn thấy khách quý, luôn kính trọng với người khác, đây là khí tượng của “kính”.
Bản thân tu dưỡng khiến dân chúng bình an, trung thực kính cẩn mà khiến thiên hạ được thái bình, đây là hiệu quả của “kính”. Thông minh và trí tuệ đều là từ “kính” mà ra.
Nếu như việc lớn hay việc nhỏ, người nhiều hay người ít, đều dùng lòng cung kính (cả bên trong và bên ngoài) để đối đãi, không dám buông thả thì thân thể sẽ khỏe mạnh.
3. Nhân từ sẽ được tự tại
Khổng Tử giáo dục con người đều là dùng chữ “nhân” (nhân từ, nhân ái) làm trọng. Ông nói: “Dục lập lập nhân, dục đạt đạt nhân”, (ý nói đến phương pháp hành nhân: Đem mong muốn sự nghiệp thành đạt của mình làm cho người khác giống y như cho mình vậy. Lấy những điều mà trong lòng mình mong ước để hiểu lòng mong ước của người khác).
Người có thể hành nhân sẽ không có tâm tranh giành, như thế trong tâm luôn thấy tự tại, vui vẻ, không bị vướng bận điều gì.
4. Lao động sẽ được quỷ thần tôn trọng
Người xưa quan niệm rằng, người mà ngày đêm không làm việc gì, an nhàn rảnh rỗi, trong khi có khả năng lao động mà lại sống dựa vào người khác là người bất hạnh, quỷ thần cũng không đồng ý. Người như vậy sao có thể sống được lâu dài?
Bậc thánh hiền xưa luôn là người cần cù, tận lực với dự định của bản thân, đọc sách và luyện tập, gia tăng trí huệ và mở mang kiến thức. Người thành công trong xã hội cũng luôn là người nỗ lực làm việc.
Di chúc của Tăng Quốc Phiên có ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu xa đến đời con cháu của ông. Sau khi Tăng Quốc Phiên mất, con trai của ông là Tăng Kỷ Trạch ra làm quan, làm ngoại giao.
Tăng Kỷ Hồng cả đời nghiên cứu toán học. Sau khi cháu trai Tăng Quảng Quân của ông đỗ tiến sĩ đã làm việc ở viện hàn lâm. Những đời sau của gia đình họ Tăng đều nghiên cứu học tập cao không tham gia binh nghiệp, thậm chí ít người ra làm quan.
Tăng gia luôn ghi nhớ những lời di ngôn của Tăng Quốc Phiên, không tranh giành địa vị, giữ tâm trong sạch và duy trì được: “Tăng gia trường thịnh không suy, đời đời có nhân tài”.
------------
Nguồn: Tinh Hoa, senvangtv.com
1. Trong khi chúng ta gặp tai nạn, có cần phải niệm Quán Thế Âm Bồ Tát hay không? Bị bệnh, có cần phải niệm Dược Sư Phật hay chăng? [Nếu gặp tai nạn bèn niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, bị bệnh niệm Dược Sư Phật] thì dường như mỗi vị Phật hay Bồ Tát cai quản một chuyện [nhất định]! Từ chỗ này, chúng ta hiểu: Bình thường chúng ta tu pháp môn niệm phật, niệm A Di Đà Phật, A Di Đà Phật là Bổn Tôn của chúng ta, gặp tai nạn cũng vậy, mà bị bệnh tật cũng thế, thảy đều niệm A Di Đà Phật, chắc chắn hữu hiệu! Hiệu quả do đâu mà có? Trong các buổi giảng, chúng tôi thường nói: “Chí thành cảm thông”. Người bình thường cầu Phật, cầu Bồ Tát chẳng hiệu quả, vì tâm họ chẳng chân thành. Vì sao biết tâm họ chẳng chân thành? Họ cầu cả đống Phật, Bồ Tát, tâm họ sẽ chẳng chân thành. Nếu tâm chân thành, chỉ cầu một vị Phật hay Bồ Tát mà quý vị thường chuyên niệm, đến lúc ấy, nhất định có linh nghiệm. Chúng ta niệm đoạn này, phải hiểu rõ đạo lý này. Tục ngữ có câu: “Thành tắc linh” (thành kính ắt linh thiêng), chẳng thành kính sẽ không linh; niệm chú đều chẳng ra ngoài lệ này! Niệm chú bằng lòng Thành đều linh, huống hồ chúng ta niệm danh hiệu Phật, Bồ Tát?
2. Khi quý vị sắp mất, phải tỉnh táo, sáng suốt, như vậy thì mới nắm chắc vãng sanh. Nếu lâm chung đau khổ, hoặc hôn mê, bất tỉnh, như vậy thì chẳng có cách nào cả, thậm chí trợ niệm cũng chẳng có cách nào! Do vậy, con người trong một đời phải nên tu phước, chớ nên hưởng phước, chớ nên hưởng sạch một chút phước báo ấy, hưởng hết thì khi lâm chung sẽ chẳng có phước!
Trong quá khứ, tôi đã thấy không ít kẻ phú quý, tuổi trẻ đắc chí, trung niên đắc chí, tha hồ hưởng thụ, gọi một tiếng, trăm kẻ thưa, đến tuổi xế bóng suy sụp, ngay cả một kẻ hầu hạ, chăm sóc cũng chẳng có! Giặt áo, nấu cơm đều phải tự mình làm lấy, đáng thương vô cùng! Khi người ấy đắc chí, trong nhà kẻ hầu mười mấy, hai mươi người, vẫn sợ hầu hạ chẳng trọn vẹn; lúc tuổi xế chiều, chuyện gì tự mình cũng đều phải làm, ra phố mua thức ăn cũng tự mình xách giỏ lê bước. Tôi đã thấy rất nhiều, hưởng hết phước rồi! Tình hình lúc người ấy chết [như thế nào] có thể suy ra được, lẽ nào có thể tỉnh táo, sáng suốt được? Chẳng thể nào!
Do vậy, nhất định phải biết tu phước, mong sao khi lâm chung tỉnh táo, sáng suốt, chúng ta niệm Phật chắc chắn có thể vãng sanh. Đới nghiệp vãng sanh phải cậy vào sát-na lâm chung ấy! Như Trương Thiện Hòa tỉnh táo dường ấy là do thiện căn tu hành trong nhiều đời nhiều kiếp, khi đó, [thiện căn ấy] bèn hiện tiền. Suốt đời chẳng nghe Phật pháp, lâm chung được nghe, chịu tin tưởng, chịu chuyên tâm niệm; do vậy, lúc lâm chung mười niệm hay một niệm cũng có thể vãng sanh, đấy là Hạ Phẩm Hạ Sanh trong Quán Kinh. Ngàn vạn phần phải ghi nhớ, quyết chẳng thể mang tâm lý cầu may. Đọc câu chuyện này, [bèn lầm tưởng] chẳng có gì phải gấp rút! Cả đời này tạo ác thêm một chút, chẳng sao cả! Lâm chung vẫn còn kịp. Nếu quý vị suy tưởng như vậy, lầm lẫn quá đỗi! Khi quý vị lâm chung, có thể bảo đảm tỉnh táo, sáng suốt như ông Trương Thiện Hòa hay chăng? Có bảo đảm khi ấy sẽ có thiện tri thức tới giúp đỡ quý vị hay không? Do vậy, chớ nên mang tâm lý cầu may! Phải sốt sắng niệm Phật. Nhất là trong thời đại hiện đại này, tai nạn bất ngờ rất nhiều, bản thân chúng ta có đảm bảo cả đời chẳng gặp phải hay chăng? Tai nạn đột nhiên xảy đến, làm thế nào đây? Do vậy, bình thường phải nghiêm túc nỗ lực niệm Phật, niệm Phật có thể tiêu tai miễn nạn. Dẫu đại kiếp nạn xảy đến, cũng có thể tỉnh táo, sáng suốt niệm Phật vãng sanh, đấy là công đức lợi ích chẳng thể nghĩ bàn.
(Pháp Sư Tịnh Không)
"Để trau dồi tâm từ ái chân chính, trước hết quý vị phải thực hành thiền định về tâm bình đẳng bằng quán tâm xả, gỡ bỏ mình ra khỏi những người gần gũi, thân thiết. Sau đó quý vị phải xả bỏ những cảm xúc tiêu cực đối với người mình thù hận. Mọi chúng hữu tình đều được nhìn nhận trên cơ sở bình đẳng. Trên nền tảng như vậy, quý vị có thể từng bước phát triển tâm từ bi chân thật đến tất cả mọi người." Đức Dalai Lama.
Lời dạy 1: Hành giả, và học giả
------------ HT Thích Thanh Từ
“…Trong đạo có hai hạng người học Phật, một là học giả, hai là hành giả. Học giả là người dùng tâm suy nghĩ để nghiên cứu nghiền ngẫm giáo lý của Phật, còn hành giả là học phương pháp của Phật dạy để ứng dụng tu thể nhập được lý đạo. Hai hạng người đó khác nhau, một bên dùng trí suy tư để mong hiểu Phật, một bên dùng pháp Phật dạy để định tâm mình, mong ngộ lẽ thật. Hai hạng người đó đối với kinh Viên giác người nào trúng? – Người ứng dụng tu hành. Thế mà có nhiều người nghe nói ông đó có bằng Tiến sĩ Phật học thì cũng khen tấm tắc: Chà ông đó cao quá! Hay quá! Nhưng mà hay thật chưa? Giá trị thật không phải ở cấp bằng mà ở chỗ có dừng được tâm điên đảo của mình hay không? Trong giới tu hành hiện nay hay vấp phải cái lỗi đó, lấy cái học làm trên. Nếu lấy cái học làm trên thì sự “thật chứng” không có. Không sự chứng ngộ thì làm sao thể nhập chân lý? Làm sao mồi được ngọn đuốc tuệ của Phật để soi đường cho chúng sanh đang đi trong đêm tối? Không có những bậc tu chứng thì lấy ai tiếp nối duy trì Phật pháp? Sau khi Phật niết-bàn, cuộc kết tập kinh điển lần thứ nhất toàn là những bậc đắc quả A-la-hán dự. Lúc đó ngài A-nan chưa đắc quả bị ngài Đại Ca-diếp từ chối không cho vào, mặc dầu Ngài biết nếu không có ngài A-nan thì không ai trùng tuyên lại Tạng kinh được.
Lại có những vị vô chùa cạo tóc rồi ôm sách tới trường, học năm mười năm ra giảng đạo, lên Thượng tọa rồi tới già chết. Như vậy, chừng nào thấy được lẽ thật? Chủ yếu của người học đạo là học cho biết để thực hành, chớ không phải lấy kiến giải làm sở đắc, nếu lấy kiến giải làm sở đắc, thì ngàn đời không thấy được chân lý! Hậu vận Phật giáo sẽ ra sao nếu trong giới tu sĩ không có những người thật chứng ngộ? Có nhiều quyển sách của các học giả viết về đạo Phật, lý luận làm cho người đọc thêm rối, đưa người đọc lạc vào rừng ngôn ngữ không biết lối ra. Muốn hiểu đạo lý, muốn giải thoát sanh tử thì học rồi phải thực hành, mới mong thấy được manh mối của sự giải thoát, đó là Giải hạnh tương ưng…”
(trích Kinh Viên Giác – Chương IV "Bồ Tát Kim Cang Tạng Thưa Hỏi" _ HT. Trúc Lâm, ngài còn được gọi là HT Thích Thanh Từ dịch và giảng)
Lời dạy 2: Cái chơn và cái giả
------------ HT Thích Thanh Từ
"…Một số người cứ ngỡ rằng vào Niết-bàn là vào một cảnh giới rực rỡ, có đủ thứ tốt đẹp. Tưởng Niết-bàn như vậy là Niết-bàn tưởng tượng. Niết-bàn là vô sanh, vô sanh mà hằng tri hằng giác, chứ không phải vô sanh mà vô tri vô giác. Cái hằng tri hằng giác đó cũng gọi là Phật tánh. Như vậy nhận được cái vô sanh hằng tri giác là nhập được Phật tánh của mình. Nếu nhập được Phật tánh của mình thì gọi là Phật. Chúng ta cứ mong thành Phật, được ngồi trên tòa sen có hào quang rực rỡ, nhưng không biết ông Phật đó là Phật sanh tử. Phật Pháp thân thì không có hình tướng.
Cho nên người biết tu sẽ được kết quả rất cụ thể, còn người không biết tu, hết nghĩ chuyện này đến chuyện nọ liên miên, nên không có kết quả. Trong khi cái biết thầm lặng luôn ở bên mình lại không hay, không nhớ tới. Do không nhận được cái hằng tri hằng giác thầm lặng ấy, nên chỉ nghĩ hơn nghĩ thua, nghĩ phải nghĩ quấy, cho đó là tâm. Chấp giữ khư khư thân sinh diệt và tâm sinh diệt là mình thì trách gì không đi trong luân hồi sanh tử muôn kiếp. Bởi cho cái sinh diệt là mình nên vừa mất cái sinh diệt này liền ôm cái sinh diệt khác, cứ liên miên như vậy, chịu vô lượng khổ đau, không có ngày ra khỏi.
Nếu biết rõ thân này vô thường sinh diệt, tâm phân biệt hơn thua phải quấy cũng vô thường sinh diệt; chỉ có cái hằng tri hằng giác, không hình không tướng đó mới thật là mình, thì đâu còn chạy theo hay chấp giữ cái vô thường sanh diệt làm gì nữa. Ngay đây dừng lại tất cả vọng tưởng đảo điên, thân tâm an vui, tự tại. Đó chính là con đường đi đến Phật đạo".
(trích "Con Đường Đi Đến Phật Đạo" – Hòa thượng Trúc Lâm)
"Practice until you see yourself in the cruellest person on Earth, in the child starving, in the political prisoner. Continue until you recognize yourself in everyone in the supermarket, on the street corner, in a concentration camp, on a leaf, in a dewdrop. Meditate until you see yourself in a speck of dust in a distant galaxy. See and listen with the whole of your being.
If you are fully present, the rain of Dharma will water the deepest seeds in your consciousness, and tomorrow, while you are washing the dishes or looking at the blue sky, that seed will spring forth, and love and understanding will appear as a beautiful flower. "
~ Thich Nhat Hanh ~
KHÔNG PHẢI DÙNG TIỀN MỚI LÀ BỐ THÍ.
Phật dạy cho chúng ta phương pháp phá trừ tập khí, bảo chúng ta bố thí. Bố thí chính là xả kỉ lợi tha. Bố thí phải làm triệt để, không phải nói bạn đến cái đạo tràng này để quyên góp một ít tiền, vậy gọi là bố thí, cái này không có hiệu quả, nếu như bạn thể hội như vậy, là bạn đã hoàn toàn hiểu sai ý của Phật rồi, đã hiểu sai ý của Phật. Trong kệ khai kinh nói: Nguyện giải Như Lai chân thực nghĩa. Bạn là hiểu sai nghĩa chân thật của Như Lai rồi.
Phật dạy cho chúng ta phương pháp phá trừ tập khí, bảo chúng ta bố thí. Bố thí chính là xả kỉ lợi tha. Bố thí phải làm triệt để, không phải nói bạn đến cái đạo tràng này để quyên góp một ít tiền, vậy gọi là bố thí, cái này không có hiệu quả, nếu như bạn thể hội như vậy, là bạn đã hoàn toàn hiểu sai ý của Phật rồi, đã hiểu sai ý của Phật. Trong kệ khai kinh nói: Nguyện giải Như Lai chân thực nghĩa. Bạn là hiểu sai nghĩa chân thật của Như Lai rồi.
Kiểu vào trong tự miếu để xả một ít tiền này, không có tác dụng. Trong kinh nói rất rõ ràng: Xả kỉ lợi tha. Cần xả thân của mình, xả tâm của mình mới được. Cái sự việc này khó rồi! Thực ra không khó. Bạn ở gia đình, tôi nghĩ chúng ta các đồng tu đang ngồi đây có không ít người làm nội trợ.
Bạn ở trong gia đình bận rộn từ sáng đến tối, ta là vì lợi ích người trong cả gia đình này, thân tâm đều bố thí, bố thí cho người trong gia đình của ta. Ta vì người trong gia đình này mà lao nhọc phục vụ, dùng thể lực của ta dọn dẹp trong nhà rất gọn gàng ngăn nắp, rất sạch sẽ, làm việc chăm chỉ, là XẢ THÂN
Còn phải thường xuyên suy nghĩ, làm thế nào cải thiện chất lượng đời sống, nâng cao trình độ đời sống tinh thần, vật chất của người trong gia đình, đây là bố thí trí tuệ của bạn, tâm cũng bố thí rồi. Gia đình ngăn nắp rồi, chúng ta sống trong cộng đồng nhỏ hàng xóm, khu phố, ta phải vì cái cộng đồng này mà phục vụ, cái này gọi là xả kỉ lợi nhân, đây gọi là bố thí. Cho nên bố thí không phải bảo bạn xả một ít tiền trong cửa Phật gọi là bố thí, thế bạn làm không biết là sai đến chỗ nào rồi. THÂN TÂM đều dùng để bố thí cúng dường tất cả đại chúng, không vì lợi ích cho bản thân.
Cho nên từ những cái gần gũi nhất của bạn. Phật pháp chúng ta thường nói: Từ bi làm gốc, phương tiện làm cửa. Cái thuận tiện nhất chính là người trong gia đình bạn, chính là người chung quanh đời sống của bạn. Bạn mỗi ngày làm việc, nơi làm việc của bạn, bạn phải tiếp xúc một số người, tất cả hoàn cảnh, bạn tận tâm tận lực, nỗ lực mà làm việc, đó chính là bố thí. Muốn hình thành một cái tâm nguyện Phật Bồ-tát, ta chỉ phục vụ, chỉ làm tròn nghĩa vụ, không hưởng quyền lợi, đây là Bồ-tát.
Nếu như ta làm tròn nghĩa vụ, ta còn muốn hưởng quyền lợi, vậy tâm của bạn đã có trụ rồi. Bố thí không sai, nhưng mà tâm của bạn có trụ. Phật dạy chúng ta: Nên không có chỗ trụ mà làm việc bố thí, tức là ta chỉ làm tròn nghĩa vụ mà không hưởng quyền lợi, đây là Phật Bồ-tát. Phàm phu làm tròn nghĩa vụ, nhưng muốn hưởng thụ quyền lợi, đó là phàm phu.
Phật nói cho chúng ta biết, là tăng trưởng chấp ngã, không thể ra khỏi tam giới. Mục đích của chúng ta là phải ngay trong đời này vĩnh viễn thoát khỏi sanh tử luân hồi, không tạo lục đạo nữa. Phương pháp không tạo lục đạo nữa chính là chỉ làm tròn nghĩa vụ, không hưởng quyền lợi.
*Trích từ bài giảng Kinh KIM CANG GIẢNG Ký (Tập 120)*.
Lời dạy 3: Khoảng lặng
------------ HT Thích Thanh Từ
"…Ai cũng nói tâm là cái biết, là phần tinh thần của mình. Như vậy khi khởi nghĩ phân biệt hơn thua, phải quấy, tốt xấu là chân hay giả? Khi vọng tưởng thứ nhất lặng, chừng một giây hay hai giây vọng tưởng thứ hai dấy lên, thì khoảng trống giữa cái thứ nhất với cái thứ hai đó, chúng ta hữu tri hay vô tri? Hữu tri tức là có tâm. Vọng tưởng dấy lên thì có suy nghĩ, cái suy nghĩ đó là động. Mỗi một niệm dấy lên là động, động là tướng sinh diệt. Khi nó lặng, khoảng giữa này không dài, nhưng vẫn có một khoảng giữa trước khi niệm thứ hai dấy lên. Khoảng giữa đó, nếu không có tri thì niệm thứ hai dấy lên mình không thấy. Nhưng niệm thứ hai vừa trồi đầu lên, mình thấy liền, như vậy trong khoảng giữa đó có tri hay vô tri? Có tri. Cái tri của khoảng giữa đó là cái tri bất sinh bất diệt.
Khi chúng ta khởi nghĩ nhớ ba, nhớ má, thì hình bóng ba má hiện ra. Ta liền nói “vọng, buông!”. Buông thì nó lặng xuống, im lìm được một chút lại dấy lên nhớ chú, nhớ bác. Khi đó hình dáng chú, bác hiện ra. Như vậy khoảng giữa của hai niệm là cái biết không sinh diệt. Như vậy ngồi thiền hai tiếng đồng hồ, giả sử có hai trăm lần vọng tưởng, mất đi một tiếng đồng hồ, còn lại một tiếng lặng lẽ, quý vị đang làm gì, ở đâu? Chỗ này phải nhìn cho thật sâu mới thấy hết giá trị của nó. Trong hai trăm lần vọng tưởng mất một giờ động, nhưng cũng có một giờ tịnh, phải không?
Một giờ tịnh là không mê. Vừa dấy niệm chúng ta liền thấy, đó là yên tịnh trong cái rõ ràng thường biết. Góp lại từng chặng từng chặng rõ ràng thường biết đó được một giờ, như vậy buổi ngồi thiền đó hữu ích hay vô ích? Tối thiểu chúng ta cũng được một giờ yên tịnh. Vậy mà chúng ta cứ nhớ hai trăm lần vọng tưởng, bỏ quên cái khoảng lặng quý giá đó, nên cho rằng mình tu sao chỉ thấy toàn vọng tưởng, không được thanh tịnh giây phút nào…"
(trích "Con Đường Đi Đến Phật Đạo" – Hòa thượng Trúc Lâm)
Thứ Tư, 17 tháng 8, 2016
Theo quan sát hạn hẹp của tôi, dường như tồn tại một sự "đối lập" thú vị giữa cái dụng công chăm chỉ của Tịnh Độ tông và cái thong dong khoáng đạt của Thiền tông. Thiền khiến người ta mê say thoát tục, còn Tịnh Độ như cầm tay chỉ lối, rành mạch phân bua. Những lời khai thị của lão pháp sư Tịnh Không, tôi đọc rất thấm.
Nhưng tôi có phần nào băn khoăn với những lời huấn thị của thiền sư Thích Nhất Hạnh. Dường như đó là Tượng Pháp, là những gì na ná như pháp, nhưng lại không thực là pháp.
Thôi, tôi lại lan man. Tôi cứ y theo kinh điển Phật thuyết mà làm. Thiền tịnh, phòng tâm hộ ý không lúc nào buông lơi.
Nhưng tôi có phần nào băn khoăn với những lời huấn thị của thiền sư Thích Nhất Hạnh. Dường như đó là Tượng Pháp, là những gì na ná như pháp, nhưng lại không thực là pháp.
Thôi, tôi lại lan man. Tôi cứ y theo kinh điển Phật thuyết mà làm. Thiền tịnh, phòng tâm hộ ý không lúc nào buông lơi.
Tôi phải trở về thôi. Thời gian qua tâm tôi động loạn không ngừng. Cuộc sống của tôi, có lẽ chỉ phù hợp với những thói quen.
Tôi sẽ trở về với công việc full time của mình. Là đọc kinh, thiền, và tụng kinh. Một ngày, phải làm cho xong 3 việc ấy. Phải luôn đốc thúc bản thân, phải nhắc bản thân rằng đời là khổ, là vô thường biến đổi, không tu gấp thì đại sự hỏng bét cả.
Đọc kinh để hiểu, không cốt đọc nhiều. Một lời dạy của Phật, làm theo được đã được lợi ích khôn cùng. Thiền là cần thiết với người tu, như sinh mệnh gắn liền với hơi thở. Còn tụng kinh, thời gian qua tôi không tụng kinh. Và tôi nhớ. Có gì đó rất day dứt. Nên tôi sẽ tụng kinh trở lại. Thời gian sẽ rất eo hẹp.
Dạo này, tôi luôn cảm thấy buồn phiền. Uể oải. Không thiết làm gì. Nhắc tay đụng chân cũng không. Chuyện này xảy ra với tôi nhiều lần rồi, nhiều năm rồi. Tôi muốn thoát ra.
Thời gian qua, tôi vào facebook quá thường xuyên, share thông tin, share bài hát. Đến hôm nay tôi giật mình nghĩ lại: những bài hát đó đều là những bài hát rất cũ, tôi từng mê mệt một thời, cách đây vài năm rồi. Vậy là tôi vẫn dậm chân tại chỗ. Vẫn những cảm xúc mòn vẹt. Tôi không hề thay đổi. Dẫu sao, thời gian ồn ào trên fb vừa qua của tôi, cũng có cái ích là giúp tôi nhận ra điều đó.
Thôi, đi tiếp nào.
Tôi sẽ trở về với công việc full time của mình. Là đọc kinh, thiền, và tụng kinh. Một ngày, phải làm cho xong 3 việc ấy. Phải luôn đốc thúc bản thân, phải nhắc bản thân rằng đời là khổ, là vô thường biến đổi, không tu gấp thì đại sự hỏng bét cả.
Đọc kinh để hiểu, không cốt đọc nhiều. Một lời dạy của Phật, làm theo được đã được lợi ích khôn cùng. Thiền là cần thiết với người tu, như sinh mệnh gắn liền với hơi thở. Còn tụng kinh, thời gian qua tôi không tụng kinh. Và tôi nhớ. Có gì đó rất day dứt. Nên tôi sẽ tụng kinh trở lại. Thời gian sẽ rất eo hẹp.
Dạo này, tôi luôn cảm thấy buồn phiền. Uể oải. Không thiết làm gì. Nhắc tay đụng chân cũng không. Chuyện này xảy ra với tôi nhiều lần rồi, nhiều năm rồi. Tôi muốn thoát ra.
Thời gian qua, tôi vào facebook quá thường xuyên, share thông tin, share bài hát. Đến hôm nay tôi giật mình nghĩ lại: những bài hát đó đều là những bài hát rất cũ, tôi từng mê mệt một thời, cách đây vài năm rồi. Vậy là tôi vẫn dậm chân tại chỗ. Vẫn những cảm xúc mòn vẹt. Tôi không hề thay đổi. Dẫu sao, thời gian ồn ào trên fb vừa qua của tôi, cũng có cái ích là giúp tôi nhận ra điều đó.
Thôi, đi tiếp nào.
Này các Tỷ-kheo, hãy sống đầy đủ giới, đầy đủ giới bổn Pàtimokkha, được chế ngự với chế ngự giới bổn Pàtimokkha. Hãy sống đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp. Đã sống đầy đủ giới, này các Tỷ-kheo, đầy đủ giới bổn Pàtimokkha, được chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha, sống đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học pháp, còn có gì cần phải làm thêm nữa?
Nếu Tỷ-kheo trong khi đi, tham, sân được từ bỏ, hôn trầm thụy miên được từ bỏ, trạo hối được từ bỏ, nghi được đoạn tận, tinh cần tinh tấn, không có thụ động, niệm được an trú không có thất niệm, thân được khinh an không có cuồng nhiệt, tâm được định tĩnh nhất tâm. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi đi có sở hành như vậy, vị ấy được gọi là người có nhiệt tâm, có sợ hãi liên tục thường hằng tinh tấn, siêng năng.
Nếu Tỷ-kheo trong khi đứng... nếu Tỷ-kheo trong khi ngồi... nếu Tỷ-kheo trong khi nằm, thức, tham được trừ bỏ, sân được từ bỏ, hôn trầm thụy miên được từ bỏ, trạo hối được từ bỏ, nghi được đoạn tận, tinh cần tinh tấn, không có thụ động, niệm được an trú, không có thất niệm, thân được khinh an, không có cuồng nhiệt, tâm được định tĩnh, nhất tâm. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi đang nằm thức có sở hành như vậy, vị ấy được gọi là người nhiệt tâm, có sợ hãi, liên tục thường hằng, tinh tấn, siêng năng.
Đi đứng biết tự chế,
Nếu Tỷ-kheo trong khi đi, tham, sân được từ bỏ, hôn trầm thụy miên được từ bỏ, trạo hối được từ bỏ, nghi được đoạn tận, tinh cần tinh tấn, không có thụ động, niệm được an trú không có thất niệm, thân được khinh an không có cuồng nhiệt, tâm được định tĩnh nhất tâm. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi đi có sở hành như vậy, vị ấy được gọi là người có nhiệt tâm, có sợ hãi liên tục thường hằng tinh tấn, siêng năng.
Nếu Tỷ-kheo trong khi đứng... nếu Tỷ-kheo trong khi ngồi... nếu Tỷ-kheo trong khi nằm, thức, tham được trừ bỏ, sân được từ bỏ, hôn trầm thụy miên được từ bỏ, trạo hối được từ bỏ, nghi được đoạn tận, tinh cần tinh tấn, không có thụ động, niệm được an trú, không có thất niệm, thân được khinh an, không có cuồng nhiệt, tâm được định tĩnh, nhất tâm. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo trong khi đang nằm thức có sở hành như vậy, vị ấy được gọi là người nhiệt tâm, có sợ hãi, liên tục thường hằng, tinh tấn, siêng năng.
Đi đứng biết tự chế,
Ngồi nằm biết tự chế,
Tỷ-kheo biết tự chế,
Khi co tay, duỗi tay.
Phía trên, ngang, cùng khắp,
Xa cho đến cùng tột,
Bất cứ sanh thú nào,
Ở tại thế giới này,
Khéo quán sát sanh diệt,
Của tất cả pháp uẩn,
Sống như vậy nhiệt tâm,
Tâm chỉ tịnh, đúng pháp,
Tâm an tịnh, không động,
Thường xuyên chuyên học tập,
Liên tục, thường siêng năng,
Tỷ-kheo được gọi vậy.
Kinh Nikaya
Kinh Nikaya
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo khi đang đi khởi lên dục tầm, sân tầm hay hại tầm, nếu Tỷ-kheo chấp nhận không có từ bỏ, không có tẩy sạch, không có chấm dứt, không đi đến, không hiện hữu. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo đang đi có sở hành như vậy, vị ấy được gọi là người không có nhiệt tình, không có sợ hãi, liên tục thường hằng biếng nhác, tinh tấn hạ liệt.
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo khi đang đứng.... khi đang ngồi... khi đang nằm thức khởi lên dục tầm, hay sân tầm, hay hại tầm. Nếu Tỷ-kheo chấp nhận, không có từ bỏ, không có tẩy sạch, không có chấm dứt, không đi đến, không hiện hữu, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo khi đang nằm thức có sở hành như vậy, vị ấy được gọi là vị không có nhiệt tình, không có sợ hãi, liên tục thường hằng biếng nhác, tinh tấn hạ liệt.
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo khi đang đứng.... khi đang ngồi... khi đang nằm thức khởi lên dục tầm, hay sân tầm, hay hại tầm. Nếu Tỷ-kheo chấp nhận, không có từ bỏ, không có tẩy sạch, không có chấm dứt, không đi đến, không hiện hữu, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo khi đang nằm thức có sở hành như vậy, vị ấy được gọi là vị không có nhiệt tình, không có sợ hãi, liên tục thường hằng biếng nhác, tinh tấn hạ liệt.
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo khi đang đi khởi lên dục tầm, sân tầm hay hại tầm; nếu Tỷ-kheo không chấp nhận, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, đi đến không hiện hữu; thì này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo khi đang đi có sở hành như vậy, vị ấy là có nhiệt tình, có sợ hãi, liên tục thường hằng tinh cần tinh tấn, siêng năng.
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo khi đang ngồi. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo khi đang nằm thức khởi lên dục tầm, sân tầm hay hại tầm, nếu Tỷ-kheo không chấp nhận, từ bỏ, tẩy sạch, chấm dứt, đi đến không hiện hữu... thì này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo khi đang nằm thức có sở hành như vậy, vị ấy được gọi là vị có nhiệt tình, có sợ hãi, liên tục thường hằng tinh cần tinh tấn, siêng năng.
Khi đến hoặc khi đứng,
Khi ngồi hay khi nằm,
Khởi lên ác tâm tư,
Liên hệ đến gia đình,
Thực hành theo ác đạo,
Mờ ám bởi si mê,
Vị Tỷ-kheo như vậy,
Không chứng Vô thượng giác.
Ai khi đi, khi đứng,
Khi ngồi hay khi nằm,
Tập trung được tâm tư,
Ưa thích tầm chỉ tịnh,
Vị Tỷ-kheo như vậy,
Chứng được Vô thượng giác.
Kinh Nikaya
Thứ Ba, 16 tháng 8, 2016
Thứ Năm, 11 tháng 8, 2016
Này các Tỷ-kheo, ví như có người bị dòng sông cuốn trôi, dòng sông đẹp đẽ, dễ thương. Có người có mắt, đứng trên bờ thấy người ấy, nói rằng: "Này người kia, tuy người bị cuốn trôi bởi dòng sông đẹp đẽ dễ thương nhưng ở dưới kia có một cái hồ, đầy sóng và nước xoáy, đầy cá sấu và quỷ Dạ-xoa; nếu Ông đến chỗ ấy, Ông sẽ bị chết, hay đau khổ gần như chết. Rồi người ấy, sau khi nghe tiếng của người kia, liền với tay và với chân, bơi ngược dòng".
Này các Tỷ-kheo, Ta ví dụ này là để giải thích ý nghĩa. Ở đây, ý nghĩa là như sau: "Dòng sông, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với ái. Sắc khả ái dễ thương, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ. Cái hồ ở dưới, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với năm hạ phần kiết sử. Sóng, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với phẫn nộ, ưu não. Nước xoáy, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với năm dục tăng trưởng. Cá sấu, với quỷ Dạ-xoa, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với đàn bà; ngược dòng, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa xuất ly. Tinh tấn với tay với chân là đồng nghĩa với tinh cần tinh tấn. Người có mắt đứng trên bờ, này các Tỷ-kheo, là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác".
Cùng với sự đau khổ,
Hãy từ bỏ các dục,
Mong cầu trong tương lai,
An ổn khỏi khổ ách,
Chơn chánh hiểu biết rõ,
Tâm khéo được giải thoát,
Tại đấy, ở tại đấy,
Cảm xúc được giải thoát,
Vị ấy đạt hiểu biết,
Phạm hạnh được thành tựu,
Đến tận cùng thế giới,
Đến được bờ bên kia.
Vị ấy được gọi vậy.
Kinh Nikaya
Này các Tỷ-kheo, Ta ví dụ này là để giải thích ý nghĩa. Ở đây, ý nghĩa là như sau: "Dòng sông, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với ái. Sắc khả ái dễ thương, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ. Cái hồ ở dưới, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với năm hạ phần kiết sử. Sóng, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với phẫn nộ, ưu não. Nước xoáy, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với năm dục tăng trưởng. Cá sấu, với quỷ Dạ-xoa, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với đàn bà; ngược dòng, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa xuất ly. Tinh tấn với tay với chân là đồng nghĩa với tinh cần tinh tấn. Người có mắt đứng trên bờ, này các Tỷ-kheo, là Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác".
Cùng với sự đau khổ,
Hãy từ bỏ các dục,
Mong cầu trong tương lai,
An ổn khỏi khổ ách,
Chơn chánh hiểu biết rõ,
Tâm khéo được giải thoát,
Tại đấy, ở tại đấy,
Cảm xúc được giải thoát,
Vị ấy đạt hiểu biết,
Phạm hạnh được thành tựu,
Đến tận cùng thế giới,
Đến được bờ bên kia.
Vị ấy được gọi vậy.
Kinh Nikaya
Mẹ tôi gọi điện, thông báo rằng từ cuối tuần này mỗi Chủ nhật bà sẽ tới chùa tham gia khóa giảng về tu Tịnh Độ và nhờ tôi mua một bộ quần áo nâu, hãng Hải Thanh, có ống tay rộng vì ở đó mọi người đều mặc vậy.
Tôi thấy vui vui.
Vì rằng, mẹ tôi tính ra cũng thờ Phật lâu rồi, thi thoảng cũng có dạo hăm hở mua băng đĩa giảng pháp về nghe, nhưng tôi thấy có vẻ vẫn chưa đến đâu. Trước, có lần tôi cũng bảo bà thử tu pháp môn Tịnh Độ - thực ra, với bất kỳ ai cần tu tôi cũng khuyên tu pháp môn này vì tôi nghĩ nó gần gũi, dễ thực hành, dễ tạo thiện duyên với Phật pháp - nhưng hình như bà không để ý lắm. Giờ mà có thầy giảng, lại có bạn cùng tu, chắc bà sẽ phấn khởi và quyết tâm hơn, hy vọng thế :)
Trước sau gì, ai cũng cần phải có một niềm tin. Để làm gì? Để giải thích những chuyện khó tin và để tin tưởng vào những chuyện khó tin trong cuộc sống. Là tôi nghĩ vậy.
***
Tôi tham gia ký tên kêu gọi bảo vệ Larung Gar. Sáng qua change.org gửi mail cập nhật tình hình ở đó: một ni sư Tây Tạng đã tự tử.
Tôi thấy như thân Phật đang chảy máu.
Trong kinh, Phật nói hàng đệ tử của Người chính là con của Người, từ miệng sinh, từ Pháp sinh, thừa tự Pháp, không thừa tự tài vật.
Tôi tu tập chẳng đến đâu, sống buông lung giải đãi, nhưng cũng tự đặt mình vào hàng con Phật, hy vọng rằng vì cái danh đó mà dần dần tôi sống tốt đẹp hơn lên chăng. Dù sao, không thể không cố gắng được.
Cùng Thích tử, khẩu xưng bần
Kỳ thực thân bần, đạo bất bần
Bần tắc thân thường phi lũ hạt
Đạo tắc tâm tàng vô giá trân
-(Chứng Đạo Ca)
Tôi thấy vui vui.
Vì rằng, mẹ tôi tính ra cũng thờ Phật lâu rồi, thi thoảng cũng có dạo hăm hở mua băng đĩa giảng pháp về nghe, nhưng tôi thấy có vẻ vẫn chưa đến đâu. Trước, có lần tôi cũng bảo bà thử tu pháp môn Tịnh Độ - thực ra, với bất kỳ ai cần tu tôi cũng khuyên tu pháp môn này vì tôi nghĩ nó gần gũi, dễ thực hành, dễ tạo thiện duyên với Phật pháp - nhưng hình như bà không để ý lắm. Giờ mà có thầy giảng, lại có bạn cùng tu, chắc bà sẽ phấn khởi và quyết tâm hơn, hy vọng thế :)
Trước sau gì, ai cũng cần phải có một niềm tin. Để làm gì? Để giải thích những chuyện khó tin và để tin tưởng vào những chuyện khó tin trong cuộc sống. Là tôi nghĩ vậy.
***
Tôi tham gia ký tên kêu gọi bảo vệ Larung Gar. Sáng qua change.org gửi mail cập nhật tình hình ở đó: một ni sư Tây Tạng đã tự tử.
Tôi thấy như thân Phật đang chảy máu.
Trong kinh, Phật nói hàng đệ tử của Người chính là con của Người, từ miệng sinh, từ Pháp sinh, thừa tự Pháp, không thừa tự tài vật.
Tôi tu tập chẳng đến đâu, sống buông lung giải đãi, nhưng cũng tự đặt mình vào hàng con Phật, hy vọng rằng vì cái danh đó mà dần dần tôi sống tốt đẹp hơn lên chăng. Dù sao, không thể không cố gắng được.
Cùng Thích tử, khẩu xưng bần
Kỳ thực thân bần, đạo bất bần
Bần tắc thân thường phi lũ hạt
Đạo tắc tâm tàng vô giá trân
-(Chứng Đạo Ca)
Thứ Ba, 9 tháng 8, 2016
Này các Tỷ-kheo, được địa vị làm người được gọi là đi đến cõi lành của chư Thiên. Khi được địa vị làm người, được lòng tin trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, này các Tỷ-kheo, đây được gọi là nhận được những gì khéo nhận được của chư Thiên. Khi lòng tin được nhập vào, được an trú thành gốc rễ, kiên trì, không bị làm tan nát bởi Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên nhân, Ác ma, Phạm thiên hay bất cứ ai ở đời thì được gọi là khéo an trú của chư Thiên.
Kinh Nikaya
Kinh Nikaya
Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến, và tôi đã được nghe:
Này các Tỷ-kheo, có ba pháp này đưa đến tổn giảm cho Tỷ-kheo hữu học. Thế nào là ba? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hữu học ưa thích công việc, thích thú công việc, đam mê ưa thích công việc; ưa thích nói chuyện, thích thú nói chuyện, đam mê ưa thích nói chuyện; ưa thích nằm ngủ, thích thú nằm ngủ, đam mê ưa thích nằm ngủ. Này các Tỷ-kheo, có ba pháp này đưa đến sự tổn giảm cho Tỷ-kheo hữu học.
Này các Tỷ-kheo, có ba pháp này không đưa đến tổn giảm cho Tỷ-kheo hữu học. Thế nào là ba? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hữu học không ưa thích công việc, không thích thú công việc, không đam mê ưa thích công việc; không ưa thích nói chuyện, không thích thú nói chuyện, không đam mê ưa thích nói chuyện; không ưa thích nằm ngủ, không thích thú nằm ngủ, không đam mê ưa thích nằm ngủ. Này các Tỷ-kheo, có ba pháp này không đưa đến tổn giảm cho Tỷ-kheo hữu học. Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.
Tỷ-kheo thích công việc,
Này các Tỷ-kheo, có ba pháp này đưa đến tổn giảm cho Tỷ-kheo hữu học. Thế nào là ba? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hữu học ưa thích công việc, thích thú công việc, đam mê ưa thích công việc; ưa thích nói chuyện, thích thú nói chuyện, đam mê ưa thích nói chuyện; ưa thích nằm ngủ, thích thú nằm ngủ, đam mê ưa thích nằm ngủ. Này các Tỷ-kheo, có ba pháp này đưa đến sự tổn giảm cho Tỷ-kheo hữu học.
Này các Tỷ-kheo, có ba pháp này không đưa đến tổn giảm cho Tỷ-kheo hữu học. Thế nào là ba? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hữu học không ưa thích công việc, không thích thú công việc, không đam mê ưa thích công việc; không ưa thích nói chuyện, không thích thú nói chuyện, không đam mê ưa thích nói chuyện; không ưa thích nằm ngủ, không thích thú nằm ngủ, không đam mê ưa thích nằm ngủ. Này các Tỷ-kheo, có ba pháp này không đưa đến tổn giảm cho Tỷ-kheo hữu học. Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.
Tỷ-kheo thích công việc,
Thích thú trong nói chuyện,
Và ưa thích nằm ngủ,
Sống dao động trạo cử;
Vị Tỷ-kheo như vậy,
Không thể nào chứng ngộ,
Chứng Bồ-đề tối thượng,
Do vậy, đối vị ấy,
Cần phải ít công việc,
Phải ít sự nằm ngủ,
Không được có tháo động,
Vị Tỷ-kheo như vậy,
Mới có thể chứng được,
Chứng tối thượng Bồ-đề.
Nghĩa này được Thế Tôn nói đến và tôi đã được nghe.
***
Ai khi được cung kính,
Khi không được cung kính,
Trong cả hai trường hợp,
Tâm định không lay chuyển.
Sống hạnh không phóng dật,
Tâm thường nhập thiền tư,
Với tâm tưởng tế nhị,
Chánh quán các sở kiến,
Ưa thích chấp thủ diệt,
Được gọi bậc chân nhân.
***
Này các Tỷ-kheo, giữa chư Thiên, có ba tiếng chư Thiên này thỉnh thoảng được vang lên, tuỳ thời được khởi lên. Thế nào là ba? Này các Tỷ-kheo, khi nào bậc Thánh đệ tử cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, nghĩ đến xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, tiếng chư Thiên được vang lên: "Vị Thánh đệ tử này nghĩ đến chiến đấu với Ác ma". Này các Tỷ-kheo, đây là tiếng chư Thiên thứ nhất, thỉnh thoảng được vang lên giữa chư Thiên, tùy thời được khởi lên.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi nào bậc Thánh đệ tử sống chuyên tâm tu tập về Bảy Bồ-đề phần; trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, tiếng chư Thiên được vang lên: "Vị Thánh đệ tử này chiến đấu với Ác ma". Này các Tỷ-kheo, đây là tiếng chư Thiên thứ hai, thỉnh thoảng được vang lên giữa chư Thiên, tùy thời được khởi lên.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi nào bậc Thánh đệ tử, với sự diệt tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, tiếng chư Thiên vang lên: "Vị Thánh đệ tử này đã chiến thắng trong chiến trận. Đứng đầu trong chiến trận, sau khi chiến thắng, vị ấy an trú". Này các Tỷ-kheo, đây là tiếng chư Thiên thứ ba, thỉnh thoảng được vang lên giữa chư Thiên, tùy thời được khởi lên.
Này các Tỷ-kheo, giữa chư Thiên có tiếng chư Thiên này, thỉnh thoảng được vang lên, tuỳ thời được khởi lên.
***
Ai khi được cung kính,
Khi không được cung kính,
Trong cả hai trường hợp,
Tâm định không lay chuyển.
Sống hạnh không phóng dật,
Tâm thường nhập thiền tư,
Với tâm tưởng tế nhị,
Chánh quán các sở kiến,
Ưa thích chấp thủ diệt,
Được gọi bậc chân nhân.
***
Này các Tỷ-kheo, giữa chư Thiên, có ba tiếng chư Thiên này thỉnh thoảng được vang lên, tuỳ thời được khởi lên. Thế nào là ba? Này các Tỷ-kheo, khi nào bậc Thánh đệ tử cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, nghĩ đến xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình; trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, tiếng chư Thiên được vang lên: "Vị Thánh đệ tử này nghĩ đến chiến đấu với Ác ma". Này các Tỷ-kheo, đây là tiếng chư Thiên thứ nhất, thỉnh thoảng được vang lên giữa chư Thiên, tùy thời được khởi lên.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi nào bậc Thánh đệ tử sống chuyên tâm tu tập về Bảy Bồ-đề phần; trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, tiếng chư Thiên được vang lên: "Vị Thánh đệ tử này chiến đấu với Ác ma". Này các Tỷ-kheo, đây là tiếng chư Thiên thứ hai, thỉnh thoảng được vang lên giữa chư Thiên, tùy thời được khởi lên.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi nào bậc Thánh đệ tử, với sự diệt tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, tiếng chư Thiên vang lên: "Vị Thánh đệ tử này đã chiến thắng trong chiến trận. Đứng đầu trong chiến trận, sau khi chiến thắng, vị ấy an trú". Này các Tỷ-kheo, đây là tiếng chư Thiên thứ ba, thỉnh thoảng được vang lên giữa chư Thiên, tùy thời được khởi lên.
Này các Tỷ-kheo, giữa chư Thiên có tiếng chư Thiên này, thỉnh thoảng được vang lên, tuỳ thời được khởi lên.
Thấy đệ tử chánh giác
Chiến thắng trong chiến trận,
Chư Thiên cũng đảnh lễ,
Bậc vĩ đại như vậy,
Bậc trí tuệ chín muồi.
Chúng tôi đảnh lễ Ngài,
Người được luyện thuần thục,
Vì Ngài đã chiến thắng,
Trận đánh rất khó thắng.
Ngài đã chiến thắng được
Quân đội của thần chết,
Không còn trở ngại gì,
Nhờ giải thoát của Ngài.
Như vậy các Thiên nhân,
Đảnh lễ vị như vậy,
Vị đạt được mục đích,
Chắc chắn các Thiên nhân,
Đảnh lễ trong vị ấy,
Pháp gì giúp thoát được,
Khỏi thần chết chi phối.
Kinh Nikaya
Thứ Hai, 8 tháng 8, 2016
Tôi đọc chưa hết kinh A-Hàm, thực ra công trình tạm gọi là miệt mài của tôi mới đi được gần nửa đường, thì quay sang đọc kinh Nikaya.
Dĩ nhiên, cho tới thời điểm này, tham vọng của tôi vẫn là có thể đọc hết các bộ kinh, bất luận nguyên thủy hay phát triển, Tiểu thừa hay Đại thừa.
Dọc đường đọc, tôi thấy mình cũng được vỡ vạc ra ít nhiều. Thiền, đối với tôi đã mất dần đi vẻ cao sang khó hiểu. Nó cũng không còn là một điều "dễ ăn" như những thiền sư vẫn nói. Nó cũng không phải là sự chú tâm vào hiện tại như thiền sư TNH nói, bởi hiện tại thì sát na thay đổi không ngừng, do duyên giả hợp tạo nên, hiện tai rồi cũng trở thành quá khứ, mà quá khứ thì không tìm cầu, tương lai chẳng ước vọng. Nó là cả một cuộc đấu tranh dữ dội và triệt để - ngôn ngữ đời thường gọi đó là cuộc đấu tranh nội tâm, còn nhà Phật nói đó là cuộc đấu tranh với các loại Ma. Thiền là một cuộc chuyển hóa cảnh giới hoàn toàn. Với trí hiểu biết nông cạn hiện giờ, thiền với tôi là thế.
Tôi thấy mình có duyên với Phật giáo nguyên thủy hơn. Những hình dung về đời sống của Đức Phật và các Tỳ-kheo hiện ra thật trìu mến trong tôi. Tôi thấy Phật cầm bát đi khất thực, Phật rửa chân, Phật ngồi thiền, Phật nằm ngủ.
Tôi có tin rằng có Phật A Di Đà? Cái con người ưa hí luận trong tôi cho rằng, một điểm độc đáo của đạo Phật là phá bỏ hình ảnh một vị thần bên ngoài, xiển dương tinh thần độc lập của mỗi cá nhân trên chặng đường giải thoát của chính mình. Pháp môn Tịnh Độ, về một mặt nào đó, dường như là một bước lùi của Đại Thừa khi hướng về một vị Phật khác. Trong khi Phật Thích Ca khẳng định ai tu tập rốt ráo, một đời này có thể chứng đắc Niết Bàn, thì Tịnh Độ tông lại thiếu đi niềm tin ấy, muốn xin về cõi nước an lành để tu tập tiếp. Họ vẫn nói đến việc phát tâm vô thượng, nhưng dường như cái tâm ấy chưa phải là vô thượng.
Nhưng tôi có muốn tin rằng có Phật A Di Đà? Có. Vì rằng đúng là Phật Thích Ca tịch diệt như mặt trời lặn mất rồi, nên nhiều khi cảm thấy chới với, nhiều khi thấy hoang mang, nên lòng tôi còn muốn được dựa dẫm. Tôi không tin vào bản thân, tôi không tin đời này tôi ngộ được.
Thôi, tôi cứ đi tiếp đã. Mọi chuyện hãy tùy duyên.
Dĩ nhiên, cho tới thời điểm này, tham vọng của tôi vẫn là có thể đọc hết các bộ kinh, bất luận nguyên thủy hay phát triển, Tiểu thừa hay Đại thừa.
Dọc đường đọc, tôi thấy mình cũng được vỡ vạc ra ít nhiều. Thiền, đối với tôi đã mất dần đi vẻ cao sang khó hiểu. Nó cũng không còn là một điều "dễ ăn" như những thiền sư vẫn nói. Nó cũng không phải là sự chú tâm vào hiện tại như thiền sư TNH nói, bởi hiện tại thì sát na thay đổi không ngừng, do duyên giả hợp tạo nên, hiện tai rồi cũng trở thành quá khứ, mà quá khứ thì không tìm cầu, tương lai chẳng ước vọng. Nó là cả một cuộc đấu tranh dữ dội và triệt để - ngôn ngữ đời thường gọi đó là cuộc đấu tranh nội tâm, còn nhà Phật nói đó là cuộc đấu tranh với các loại Ma. Thiền là một cuộc chuyển hóa cảnh giới hoàn toàn. Với trí hiểu biết nông cạn hiện giờ, thiền với tôi là thế.
Tôi thấy mình có duyên với Phật giáo nguyên thủy hơn. Những hình dung về đời sống của Đức Phật và các Tỳ-kheo hiện ra thật trìu mến trong tôi. Tôi thấy Phật cầm bát đi khất thực, Phật rửa chân, Phật ngồi thiền, Phật nằm ngủ.
Tôi có tin rằng có Phật A Di Đà? Cái con người ưa hí luận trong tôi cho rằng, một điểm độc đáo của đạo Phật là phá bỏ hình ảnh một vị thần bên ngoài, xiển dương tinh thần độc lập của mỗi cá nhân trên chặng đường giải thoát của chính mình. Pháp môn Tịnh Độ, về một mặt nào đó, dường như là một bước lùi của Đại Thừa khi hướng về một vị Phật khác. Trong khi Phật Thích Ca khẳng định ai tu tập rốt ráo, một đời này có thể chứng đắc Niết Bàn, thì Tịnh Độ tông lại thiếu đi niềm tin ấy, muốn xin về cõi nước an lành để tu tập tiếp. Họ vẫn nói đến việc phát tâm vô thượng, nhưng dường như cái tâm ấy chưa phải là vô thượng.
Nhưng tôi có muốn tin rằng có Phật A Di Đà? Có. Vì rằng đúng là Phật Thích Ca tịch diệt như mặt trời lặn mất rồi, nên nhiều khi cảm thấy chới với, nhiều khi thấy hoang mang, nên lòng tôi còn muốn được dựa dẫm. Tôi không tin vào bản thân, tôi không tin đời này tôi ngộ được.
Thôi, tôi cứ đi tiếp đã. Mọi chuyện hãy tùy duyên.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Tung hoa!!!
Không biết đã bao lâu rồi không viết blog. FB thấy không vào thì cũng ko sao. Nói chung là yên ổn với công việc của mình. Thực ra là ko yê...
-
Ngày 12. Có lẽ hai hôm nay đều bị tụt huyết áp là do tôi hạn chế khẩu phần trưa. Nên hôm nay tôi mang nhiều hơn. Mấy hôm nay, công việc ...
-
Vừa bị bạn H phản bác quan điểm của mình về TNH. Thực ra mấy chuyện này, tranh luận cũng ko giải quyết được gì lắm, vì mỗi người mỗi khác. M...
-
" nhưng tao hiểu, tu hành tốt nhất là với gia đình, thờ cha kính mẹ, chăm lo cho gia đình, rồi cho xã hội rộng lớn hơn. Đạo nào thì cũ...