Carson cũng chỉ ra rằng các công ty hóa chất gây ô
nhiễm môi trường đã thảy vào tay công chúng hòn than nóng là những khoản chi
phí khổng lồ liên quan đến việc mất nơi ở và dọn sạch rác thải mà lẽ ra người
chịu trách nhiệm phải là họ. Về cơ bản, họ đang ăn mày tiền trợ cấp của công
chúng. Nếu họ bắt buộc phải chi trả những khoản chi phí thực sự cho hoạt động
sản xuất của chính mình, thì có lẽ họ đã có động lực để mà đổi mới sáng tạo
nhằm tránh tạo ra rác thải và gây ô nhiễm môi trường như hiện nay. Trong nhiều
trường hợp, các vị lãnh đạo kinh doanh nhận ra rằng nếu thực sự phải chịu trách
nhiệm cho những khoản chi phí đó, công ty của họ sẽ phá sản. Tốt hơn hết là rót
tiền cho các nhà vận động hành lang để bảo vệ các khoản trợ cấp mà họ đang được
hưởng và ngăn chặn sự ra đời của những quy định buộc họ phải trang trải chi phí
gây ô nhiễm môi trường. Nhìn về lâu dài, chiến lược này khó mà đạt được hiệu
quả tốt. Phần lớn các công ty từng là những thủ phạm gây ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng nhất rốt cuộc đều thất bại, hoặc là bởi vì mô hình kinh doanh của
họ là không khả thi về mặt tài chính, hoặc là bởi vì cuối cùng, thông qua các
hành động pháp lý hoặc quy định của chính phủ, họ cũng bị buộc phải móc tiền
chi trả cho việc dọn dẹp rác thải và tác hại ô nhiễm môi trường mà họ đã gây
ra. Điều đáng tiếc là, sự lừa dối và những đồng tiền vận động hành lang thường
kéo dài trong rất nhiều năm nên công chúng vẫn phải chịu một khoản phí tổn lớn
về tài chính, còn những tác hại mà các công ty này gây ra cho môi trường cũng
như sức khỏe của chúng ta không thể nào khắc phục được hoàn toàn.
Các nhà kinh tế học tiên phong trong mô hình tuần hoàn
đang nâng cao sự nhận thức rằng các hệ sinh thái có thể cung cấp rất nhiều dịch
vụ giá trị, không chỉ đối với các loài sinh vật trong hệ thống mà còn đối với
xã hội loài người và sự ổn định của nền kinh tế. Họ chỉ ra rằng các doanh
nghiệp sử dụng những dịch vụ đó phải được yêu cầu chi trả cho bất kỳ giá trị
nào mà họ phá hủy. Tốt hơn nữa, họ phải làm đầy trở lại “nguồn vốn tự nhiên” mà
họ vừa khai thác. Bằng cách thực hiện các phép tính toán về giá trị tiền tệ của
các dịch vụ, các nhà tiên phong này còn góp phần cung cấp phương tiện để khắc
phục một số khiếm khuyết tệ hại của GDP, theo đó chi phí của các dịch vụ bị
khai thác cũng được tính vào để có thể đưa ra một sự đánh giá chính xác hơn
nhiều về sức khỏe nền kinh tế của một quốc gia. Ví dụ, chúng ta hãy cùng xem
xét những thiệt hại to lớn đánh vào nền kinh tế của rất nhiều cộng đồng sinh
sống ven biển ở Mỹ do cá và nhiều loài động vật có vỏ ở Vịnh Mexico bị chết
hàng loạt vì ô nhiễm môi trường do các công ty khoan dầu, nhà máy lọc dầu, và
nhà máy hóa chất gây ra ở khu vực này. Điều này không được tính vào GDP của Mỹ,
nhưng chắc chắn nó đã ảnh hưởng đến sự phồn thịnh của các cộng đồng đó. Việc
đánh giá nguồn vốn tự nhiên giúp chúng ta nhận ra được nhiều sự thật quan trọng
về những thiệt hại to lớn về cả kinh tế lẫn môi trường mà các hoạt động lấy đi
rồi lãng phí mang lại.
Cha đẻ của khái niệm nguồn vốn tự nhiên là nhà khoa
học người Anh E. F. Schumacher, ông đã giới thiệu thuật ngữ này trong cuốn sách
Small Is Beautiful (tạm dịch: Nhỏ là
đẹp) xuất bản năm 1973 và bán được bốn triệu bản. Ông phát biểu rằng, chúng ta không
nên coi sự hào phóng của tự nhiên chỉ đơn thuần là các tài nguyên, mà phải coi
đó nguồn vốn cơ bản, tiền đề để tất cả các hoạt động sản xuất và tiêu thụ của
chúng ta có thể diễn ra. Các nhà lãnh đạo kinh doanh hiểu rất rõ rằng họ phải
làm đầy nguồn vốn tài chính mà họ đã chi tiêu, nhưng họ lại mắc phải sai lầm
lớn khi quản lý nguồn vốn tự nhiên. Ngay tại dòng đầu tiên trong cuốn sách, Schumacher
đã không ngần ngại mà nói thẳng: “Một trong những sai lầm hết người trong thời
đại của chúng ta là niềm tin rằng ‘vấn đề sản xuất’ đã được giải quyết.” Thật
kỳ quặc, khi “nguồn vốn do tự nhiên cung cấp... hiện giờ đang bị sử dụng triệt
để với tốc độ đáng báo động”; khi “hệ thống công nghiệp hiện đại... lại tiêu
thụ chính cái cơ sở làm nền móng để dựng nó lên.” Chúng ta cần phải nghĩ ra “những
phương thức sản xuất và xu hướng tiêu thụ mới” để tạo ra một “lối sống được
thiết kế cho sự bền vững.”
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét