Dịch vội nên vẫn còn sống sượng. Nhưng đoạn mẹ con trao đổi với nhau thế này rất hay. Ngày trước bà ngoại cũng khuyên mình tiết kiệm. Thì mình vẫn tiết, cơ mà ví dụ muốn mua vàng, mình hay đợi tới lúc có đủ tiền mua 1-2 chỉ mới đi, nên ban đầu ko tiết kiệm được mấy, vì chưa gom đủ đã vội tiêu. Bà ngoại bảo, ngày xưa mẹ cứ có đủ tiền mua nửa chỉ là mẹ đi mua vàng. Từ đó mình mới biết đến sự tồn tại của cái gọi là nửa chỉ, và mình cũng không bài xích nó vì nó ít. Đợt tiết kiệm vàng đầu tiên, mình có nhiều cái nhẫn vừa nhỏ vừa mỏng trị giá nửa chỉ, 1 chỉ là như vậy.
“Con thì biết cái gì chứ?” Katie lên tiếng hỏi mẹ. “Con
không thể dạy cho nó những gì ngoài phạm vi hiểu biết của chính con, mà sự hiểu
biết của con thì lại quá ít ỏi. Mẹ là người nghèo. Johnny và con cũng là người
nghèo. Đứa trẻ này lớn lên cũng sẽ lại là người nghèo. Chúng con không thể có
cuộc sống tốt hơn chút nào so với hiện tại. Đôi khi con nghĩ rằng năm vừa qua có
thể là năm tốt đẹp nhất mà chúng con có được trong cuộc đời này. Bởi vì dần dà
Johnny và con rồi sẽ ngày càng già đi, mọi chuyện sẽ không thể nào khá hơn
được. Tất cả những lợi thế mà chúng con có bây giờ là chúng con vẫn còn trẻ và
còn khỏe để có thể làm việc, nhưng những cái đó rồi sẽ biến mất theo thời
gian.”
Nói đến đây, cô lại chợt nhận thức được một sự thật.
“Ý con là, con có thể làm việc. Con
không thể trông chờ gì ở Johnny được. Lúc nào con cũng phải chăm sóc cho anh
ấy. Ôi, Chúa ơi, đừng gửi đến cho con bất kỳ đứa trẻ nào nữa, nếu không con sẽ
không thể chăm sóc cho Johnny được, mà con thì nhất định phải chăm sóc cho anh
ấy. Anh ấy không thể tự chăm sóc bản thân.”
Mẹ cô lên tiếng cắt ngang dòng suy nghĩ của cô. Bà
nói,
“Ở quê cũ chúng ta có gì? Không gì cả. Chúng ta là
nông dân. Chúng ta sống đói khổ. Thế rồi chúng ta tới đây. Cuộc sống ở đây cũng
không khá khẩm hơn là bao, ngoại trừ rằng người ta không bắt bố con đi lính như
ở nhà. Ngoại trừ điều đó ra, cuộc sống thực sự khó khăn hơn rất nhiều. Mẹ rất
nhớ quê, nhớ cây cỏ và những cánh đồng rộng bao la, nhớ lối sống quen thuộc,
nhớ những người bạn cũ.”
“Nếu mẹ không trông chờ điều gì tốt đẹp hơn, vậy thì
vì sao mẹ lại đến nước Mỹ?”
“Vì con cái của mẹ, mẹ muốn chúng được sinh ra ở một
mảnh đất tự do.”
“Cho đến giờ con cái của mẹ vẫn chưa làm được gì ra
hồn cả, mẹ ạ.” Katie cười chua chát.
“Ở đây có thứ mà quê cũ không có. Mặc dù cuộc sống khó
khăn và có rất nhiều thứ lạ lẫm, nhưng ở đây có hy vọng. Ở đất nước chúng ta, đời
con cái dẫu có cố gắng đến mấy cũng không thể vượt qua được đời cha ông. Nếu
người bố là thợ mộc, người con cũng sẽ làm thợ mộc cả đời. Anh ta không thể trở
thành giáo viên hay linh mục. Anh ta có thể vươn lên, nhưng chỉ tới ngưỡng của
bố mình. Ở quê cũ, con người là của quá khứ. Còn ở đây, con người thuộc về
tương lai. Trên mảnh đất này, người ta có thể trở thành bất kỳ điều gì như ý
nguyện, nếu như họ có trái tim nhân hậu và làm những việc đúng đắn với tinh
thần trung thực.”
“Không phải như vậy. Con cái của mẹ không hề làm tốt
hơn mẹ.”
Mary Rommely thở dài. “Có thể đó là lỗi do mẹ. Mẹ
không biết cách dạy dỗ các con gái của mình, bởi vì phía sau mẹ, mẹ chẳng có
bối cảnh gì ngoại trừ một thực tế rằng trong suốt vài trăm năm, dòng họ của mẹ
đều làm lụng trên đất đai của các vị lãnh chúa. Mẹ không cho đứa con lớn của
mình đến trường bởi vì mẹ ngu ngốc, mẹ không biết rằng ở quốc gia này, con cái
của những người như chúng ta được phép học tập miễn phí. Vì thế, Sissy không có
cơ hội để làm tốt hơn mẹ. Nhưng còn ba đứa tụi con... tất cả các con đều được
học hành mà.”
“Con mới học xong lớp sáu, nếu như như thế gọi là có
học vấn.”
“Còn Yohnny của con nữa” – bà không thể phát âm được
chữ “j” – “cũng vậy. Con không thấy sao?” Giọng bà đột nhiên sôi nổi hơn. “Mọi
việc đang bắt đầu tốt dần lên.” Bà bế đứa nhỏ rồi giơ cao lên trong vòng tay
của mình. “Cô bé này được sinh ra trong một gia đình có bố mẹ biết đọc biết
viết,” bà nói một cách thản nhiên. “Đối với mẹ mà nói, đây đã là một điều kỳ
diệu tuyệt vời rồi.”
“Mẹ à, con vẫn còn trẻ. Con mới chỉ 18 tuổi. Con vẫn
còn khỏe. Con sẽ làm việc thật chăm chỉ. Nhưng con không muốn đứa trẻ này lớn
lên để rồi lại đầu tắt mặt tối mà làm việc. Mẹ ơi, con phải làm gì, con phải
làm gì để mang lại một thế giới khác cho nó? Con nên bắt đầu ra sao đây?”
“Bí quyết nằm ở việc đọc và viết. Con biết đọc chữ
rồi. Con phải tìm những cuốn sách hay và mỗi ngày đọc một trang trong đó cho
đứa nhỏ nghe. Con phải kiên trì làm như vậy cho đến khi con của con học chữ.
Sau đó bản thân đứa nhỏ sẽ phải tự đọc sách mỗi ngày. Mẹ biết, đây chính là bí
quyết.”
“Con sẽ đọc,” Katie hứa đinh ninh. “Sách hay là gì hả
mẹ?”
“Có hai cuốn sách lớn. Thứ nhất là Shakespeare. Mẹ
nghe người ta nói rằng tất cả những điều kỳ diệu của cuộc sống đều nằm trong
cuốn sách đó; tất cả những gì con người biết được về vẻ đẹp, về trí tuệ, và về
cuộc sống đều có ở đấy. Người ta nói rằng những câu truyện đó thực ra là các vở
kịch để biểu diễn trên sân khấu. Mẹ thì chưa gặp được người nào từng nhìn thấy
điều tuyệt vời ấy. Nhưng mẹ nghe vị địa chủ ở Áo nói rằng một số trang sách
trong đó có nhịp điệu du dương như những bài ca.”
“Shakespeare là cuốn sách viết bằng tiếng Đức hả mẹ?”
“Tiếng Anh con ạ. Mẹ nghe vị địa chủ cũ của nhà mình
nói như vậy với con trai ông ta từ cách đây khá lâu, khi cậu ta đang chuẩn bị
đi học ở trường đại học Heidelberg.”
“Vậy cuốn sách lớn thứ hai là gì ạ?”
“Đó là cuốn Kinh thánh mà người Tin lành vẫn đọc.”
“Chúng ta cũng có Kinh thánh mà, cuốn dành cho người
Công giáo đấy thôi.”
Mary len lén nhìn quanh phòng rồi hạ thấp giọng. “Một
con chiên ngoan đạo theo Công giáo thì không nên nói điều này, nhưng mẹ cho
rằng Kinh thánh Tin lành chứa nhiều cái đẹp của những câu truyện tuyệt vời nhất
trên thế giới này và hơn thế nữa. Trước đây một người bạn theo đạo Tin lành đọc
cho mẹ nghe một vài đoạn trong Kinh thánh của cô ấy, và mẹ thấy như vậy đấy.
“Vậy là có Kinh thánh và cuốn sách Shakespeare. Mỗi
ngày con phải đọc một trang cho con của con nghe – kể cả khi bản thân con không
hiểu người ta viết gì trong đó và không biết phát âm từ ngữ cho đúng. Con phải
làm việc này để đứa nhỏ khi lớn lên sẽ biết điều gì là tuyệt vời và vĩ đại –
biết rằng những khu nhà cho thuê ở Williamsburg này không phải là toàn bộ thế
giới.”
“Kinh thánh Tin lành và Shakespeare.”
“Và con phải kể cho con của con nghe những truyền
thuyết mà mẹ từng kể cho con – như bà ngoại con từng kể cho mẹ, và như cụ từng
kể cho bà nghe. Con phải kể những câu truyện cổ tích ở quê hương chúng ta. Con
phải kể về những nhân vật không có mặt trên trái đất này nhưng mãi mãi sống
trong trái tim của con người – những nàng tiên, những con yêu tinh, những chú
lùn, và những lực lượng như vậy. Con phải kể về những hồn ma đáng sợ từng ám
ảnh những người xung quanh bố con, và về cặp mắt quỷ dữ mà một lá bùa đặt lên
người của bác con. Con phải dạy cho đứa nhỏ biết về những dấu hiệu báo trước mà
những người phụ nữ trong dòng họ chúng ta thường thấy khi sắp có rắc rối hay
cái chết đang cận kề. Và đứa nhỏ phải biết tin tưởng ở Đức Chúa Trời và Jesus,
người con duy nhất của Ngài.” Bà làm dấu thánh giá.
“À, mà con cũng không được quên ông già Noel đâu đấy.
Con của con phải tin là có ông già Noel cho đến khi sáu tuổi.”
“Mẹ à, con biết trên đời này làm gì có ma quỷ hay nàng
tiên nào. Nếu làm như mẹ nói, thành ra con lại dạy cho đứa nhỏ những điều dối
trá ngu ngốc.”
Mary nghiêm giọng nói. “Con không thể biết trên thế
gian này có ma hay không, hay trên thiên đàng có thiên thần hay không.”
“Nhưng con biết không hề có ông già Noel.”
“Nhưng con vẫn phải dạy cho đứa nhỏ tin rằng có những
thứ như vậy.”
“Vì sao lại phải làm như thế? Khi mà bản thân con đây
cũng không tin?”
“Bởi vì,” Mary Rommely giải thích rất đơn giản, “đứa
nhỏ cần phải có được một thứ vô giá gọi là trí tưởng tượng. Nó phải có một thế
giới bí mật, nơi sinh sống của những thứ chưa từng tồn tại. Điều cần thiết ở
đây là đứa nhỏ phải biết tin tưởng. Nó phải bắt đầu bằng việc tin tưởng vào
những thứ không thuộc về thế giới này. Sau đó, khi thế giới này trở nên tồi tệ
quá sức chịu đựng, đứa nhỏ có thể quay trở về thế giới bí mật kia và sống trong
trí tưởng tượng của chính mình. Ngay bây giờ đây và ở độ tuổi này, bản thân mẹ vẫn
cần phải nhớ lại về cuộc đời kỳ diệu của những vị thánh và những điều kỳ diệu
phi phàm đã xuất hiện trên thế giới này. Nhờ có những điều đó trong đầu mà mẹ
mới có thể sống vượt ra ngoài những gì mẹ hiện có trong tay để sống.”
“Đứa nhỏ sẽ lớn lên và tự mình tìm hiểu mọi việc. Nó
sẽ biết là con đã nói dối nó. Nó sẽ thất vọng.”
“Người ta gọi đấy là quá trình tìm hiểu sự thật. Tự
mình tìm hiểu sự thật là điều tốt. Trước tiên tin tưởng bằng cả trái tim, rồi
sau đó không còn tin nữa – đây cũng là điều tốt. Nó làm cho các cung bậc cảm
xúc lên cao rồi xuống thấp. Khi trưởng thành, nếu có người khiến nó thất vọng,
thì lúc ấy nó đã được rèn luyện qua để biết thế nào là thất vọng rồi, vì thế nó
sẽ tiếp nhận mọi chuyện không quá khó khăn. Khi dạy dỗ con cái, con đừng quên
rằng chịu đựng cũng là một điều tốt. Nó làm giàu cho tính cách của mỗi con
người.”
“Nếu đúng thế,” Katie chua chát bình luận, “vậy thì
người nhà Rommely chúng ta hẳn phải rất giàu có rồi.”
“Chúng ta nghèo, đúng vậy. Chúng ta phải chịu đựng. Con
đường mà chúng ta đi rất gian nan. Nhưng chúng ta trở nên tốt đẹp hơn bởi vì
chúng ta biết đến những điều mà mẹ vừa nói với con. Mẹ không biết đọc nhưng mẹ
đã kể cho con về tất cả những gì mẹ rút ra được trong cuộc sống. Con cũng phải
kể cho con cái con những điều đó, và bổ sung thêm những điều mà con sẽ học được
sau này khi con trưởng thành hơn.”
“Con phải dạy đứa nhỏ những gì nữa?”
“Đứa nhỏ phải biết tin vào thiên đàng. Thiên đàng,
không phải là nơi chỉ có các thiên thần đang bay nhảy với Đức Chúa Trời ngự
trên ngai vàng” – Mary chật vật trình bày những ý nghĩ của bà, nửa bằng tiếng
Đức, nửa bằng tiếng Anh – “mà thiên đàng ở đây nghĩa là một nơi tuyệt vời mà
con người có thể mơ tưởng đến – như mơ về một nơi mà ở đó những khao khát và
ước muốn có thể trở thành hiện thực. Có lẽ đây là một loại tôn giáo khác. Mẹ
cũng không biết nữa.”
“Và còn gì nữa ạ?”
“Trước khi nhắm mắt xuôi tay, con phải sở hữu được một
mảnh đất – có thể là mảnh đất có một ngôi nhà trên đó để truyền lại cho con cái
của con.”
Katie bật cười. “Con sở hữu đất ấy hả? Lại còn một
ngôi nhà nữa? Chúng con bây giờ có đủ tiền để trả tiền trọ hằng tháng đã là may
mắn lắm rồi mẹ ạ.”
“Kể cả như thế.” Mary nói chắc chắn. “Con vẫn phải làm
điều đó. Suốt hàng nghìn năm qua, dòng tộc chúng ta đều là nông dân làm lụng
trên đất đai của người khác. Đó là chuyện xảy ra ở quê nhà. Ở đây chúng ta sống
tốt hơn khi được làm việc trong nhà máy. Mỗi ngày đều có một khoảng thời gian
không thuộc về người chủ, đó là khoảng thời gian do người lao động tự mình sở
hữu. Điều đó là rất tốt. Nhưng sở hữu một mảnh đất thì còn tốt hơn nữa; một
mảnh đất mà chúng ta có thể truyền lại cho con cái... một mảnh đất sẽ nâng
chúng ta đứng thẳng dậy trong cuộc đời này.”
“Chúng con làm sao mới mua được đất đây? Johnny và con
đều làm việc nhưng thu nhập quá ít. Có lúc, sau khi trả tiền thuê nhà và đóng
bảo hiểm thì hầu như không còn đủ tiền ăn. Như vậy thì làm sao chúng con có thể
tiết kiệm được tiền để mà nghĩ đến chuyện mua đất chứ?”
“Con hãy lấy một cái lon đựng sữa đặc và rửa nó thật
sạch.”
“Một cái lon...?”
“Cắt phần đầu ra. Với phần còn lại, từ miệng lon cắt
xuống một đoạn dài bằng ngón tay và cứ cắt vài đường như vậy để chia miệng lon
thành những dải rộng.” Bà dùng ngón tay áng chừng 2,5 cm. “Gập ngược các dải đó
lại về phía sau. Như vậy cái lon sẽ trông giống một ngôi sao có mấy cánh vụng
về. Lấy phần đầu lon và rạch một khe nhỏ rồi úp lên. Sau đó tìm góc khuất nhất
trong tủ quần áo của con để đóng cái lon xuống, mỗi dải đóng một chiếc đinh. Mỗi
ngày hãy bỏ vào đó 5 xu qua chiếc khe nhỏ. Trong vòng ba năm, con sẽ có một gia
tài nho nhỏ, 50 đô-la. Hãy dùng số tiền đó để mua một mảnh đất ở vùng quê. Nhớ
cầm lấy các giấy tờ khẳng định mảnh đất đó là của con. Như vậy là con đã trở
thành một chủ đất rồi. Một khi người ta đã sở hữu đất đai, họ sẽ không bao giờ
quay về kiếp sống nông nô nữa.”
“Năm xu mỗi ngày. Nghe cũng chẳng đáng là bao. Nhưng
lấy nó ở đâu ra bây giờ? Lúc này chúng con không có đủ tiền, hơn nữa nhà lại có
thêm một miệng ăn...”
“Con phải làm như thế này: Con đến chỗ cửa hàng bán
rau củ và hỏi mớ cà rốt kia bao nhiêu tiền. Người bán hàng sẽ nói 3 xu. Sau đó
con hãy nhìn xung quanh để tìm mớ cà rốt khác, không tươi bằng, và củ cũng
không to bằng mớ trước. Lúc này con lại nói: Tôi có thể mua mớ cà rốt hỏng này
với giá 2 xu không? Hãy nói thật cứng vào và họ sẽ bán cho con với giá 2 xu. Vậy
là con tiết kiệm được 1 xu rồi, hãy nhét 1 xu đó vào ngân hàng ngôi sao trong
tủ áo. Giả sử đến mùa đông, con mua hai giạ than với giá 25 xu. Trời đang rất
lạnh. Con muốn đốt lửa trong bếp lò. Nhưng từ từ, hãy chờ đã! Hãy chờ thêm một
giờ nữa. Hãy chịu đựng cái giá rét thêm một giờ. Hãy lấy khăn quấn quanh người
và tự nhủ rằng, mình chịu lạnh bởi vì mình còn phải tiết kiệm tiền để mua đất. Một
giờ đó sẽ tiết kiệm cho con 3 xu than. Hãy nhét 3 xu đó vào ngân hàng của con. Khi
con ở nhà một mình vào buổi tối, đừng vội châm đèn. Hãy ngồi trong bóng tối và mơ
mộng một lát. Hãy tính toán xem như vậy con sẽ tiết kiệm được bao nhiêu dầu rồi
quy giá trị đó ra tiền xu và lại nhét vào ngân hàng. Số tiền đó sẽ ngày càng
nhiều lên. Đến một ngày nào đó nó sẽ trở thành 50 đô-la, và rồi con sẽ tìm thấy
trên hòn đảo dài này một mảnh đất vừa khớp với số tiền đó.”
“Làm như vậy liệu có kết quả gì không ạ, chuyện tiết
kiệm ấy?”
“Mẹ thề trước Đức Mẹ rằng có.”
“Vậy tại sao đến giờ mẹ vẫn chưa tiết kiệm được đủ
tiền để mua đất?”
“Mẹ từng làm được rồi đấy chứ. Khi chúng ta mới chuyển
đến đây, mẹ cũng có một ngân hàng ngôi sao. Mẹ mất 10 năm mới tiết kiệm được 50
đô-la đầu tiên. Mẹ cầm số tiền này đi gặp một người trong vùng mà người ta nói
rằng ông ta đối xử rất tốt với những người muốn mua đất. Ông ta chỉ cho mẹ một
mảnh đất đẹp và nói bằng ngôn ngữ của mẹ rằng, ‘Đây là mảnh đất của cô.’ Ông ta
cầm tiền rồi đưa cho mẹ một tờ giấy, nhưng mẹ không biết đọc. Về sau, mẹ thấy
người khác đến xây nhà ở đó. Mẹ chìa tờ giấy ra, nhưng họ phá lên cười nhìn mẹ
đầy thương hại. Hóa ra mảnh đất không phải là của người kia, ông ta không có
quyền bán. Đó là... nói bằng tiếng Anh thì gọi là gì nhỉ... một kẻ nừa đảo.”
“Kẻ lừa đảo.”
“Ôi chao. Những người như chúng ta, ở quê cũ bị gọi là
những kẻ non nớt, thường bị lừa như vậy bởi vì chúng ta không biết chữ. Nhưng con
được học hành rồi. Trước tiên hãy đọc kỹ giấy tờ khẳng định rằng mảnh đất đó là
của con. Chỉ đến khi đó con hãy trả tiền.”
“Rồi sau đó mẹ không tiết kiệm nữa ạ?”
“Có chứ. Mẹ lại tiết kiệm từ đầu. Lần thứ hai này khó
khăn hơn bởi vì còn con cái. Mẹ vẫn tiết kiệm, nhưng khi chúng ta chuyển nhà,
bố con phát hiện ra ngân hàng ngôi sao và lấy hết tiền đi. Ông ấy nào có chịu
dùng số tiền ấy để mua đất chứ. Ông ấy lúc nào cũng thích gà qué chim muông nên
lấy tiền mua một con gà trống và nhiều con gà mái rồi đem chúng thả trong sân
sau.”
“Hình như con vẫn nhớ đàn gà ấy,” Katie nói, “từ rất
lâu, rất lâu rồi.”
“Ông ấy nói nuôi gà lấy trứng bán sẽ kiếm được nhiều
tiền ở vùng này. Ôi, đám đàn ông thật khéo mơ mộng! Ngay đêm đầu tiên 20 con
mèo hoang tìm đến, nhảy qua hàng rào và ăn thịt rất nhiều gà. Đêm thứ hai, mấy
người Italy trèo qua hàng rào và lấy trộm thêm vài con nữa. Đêm thứ ba, cảnh
sát đến nói rằng nuôi gà trong sân ở Brooklyn là vi phạm pháp luật. Chúng ta
lại phải chi ra 5 đô-la để ông ấy không đưa bố con vào đồn. Bố con bán nốt số
gà còn lại và mua mấy con chim hoàng yến vì nuôi chim thì không sao. Thế là mẹ
lại mất khoản tiết kiệm thứ hai. Nhưng bây giờ mẹ lại tiết kiệm từ đầu. Biết
đâu một ngày nào đó...” Bà ngồi trầm ngâm một lúc, rồi đứng dậy choàng khăn lên
người.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét