Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2016

Trích Đoạn Khai Thị của Pháp sư Tịnh Không
143. Hôm nay chúng ta tiếp tục giới thiệu với các vị nguyện thứ năm “tùy hỷ công đức”, cái điều này vô cùng quan trọng. Trước tiên chúng ta phải nhận biết công đức là gì? Chỗ này không thể hàm hồ được. Chúng ta xem thấy rất nhiều đạo tràng phía trước để một cái thùng bên trên viết là “thùng công đức”, cho rằng cái gì? Tiền để vào trong đó thì có công đức. Vậy thì sai rồi, không hề có công đức! Đừng nói bạn quyên góp một ít tiền thì cho rằng đã có công đức? Thật ra không có công đức! Vào thời xưa, thời đại của Lương Võ Đế (Lương Võ Đế là người trong lịch sử Trung Quốc chúng ta nổi tiếng là một Phật giáo đồ kiền thành, là đại hộ pháp của nhà Phật chúng ta), khi ông còn đương chức đã xây cất 480 ngôi đạo tràng (ngày nay chúng ta gọi là Tự Viện), quy mô đều rất lớn khích lệ nhân dân xuất gia. Ông xem thấy người xuất gia thì rất hoan hỷ, khích lệ mọi người xuất gia, cho nên độ chúng mấy trăm ngàn người. Chính ông cũng cảm thấy kêu ngạo “ô! việc này thật đáng tự hào”, làm được công đức lớn như vậy, cảm thấy kêu ngạo. Chính vào ngay lúc này Bồ Đề Đạt Ma đi đến Trung Quốc, chính là Tổ Sư của Thiền Tông (Bồ Đề Đạt Ma). Sau khi đến Trung Quốc nghe được quốc vương của Trung Quốc nhiệt tâm hộ pháp như vậy, đương nhiên phải đến bái kiến. Lương Võ Đế cũng rất vui mừng yết kiến một vị Cao Tăng đến từ Ấn Độ, sau khi gặp mặt thì Lương Võ Đế liền nói với Đạt Ma Tổ Sư về công đức hộ pháp, thành tích hộ pháp của ông. Sau khi nói xong thì ông thỉnh giáo với Đạt Ma Tổ Sư, ông nói “công đức của tôi có lớn không?”. Đạt Ma Tổ Sư, con người này rất thẳng thắn không nói nhân tình với người, ông nói ra một lời thành thật “không có công đức gì!”. Nói ra câu nói này khiến cho Lương Võ Đế không chịu nổi, Lương Võ Đế nghe rồi rất là không vui, cho nên Lương Võ Đế không hộ pháp cho ông, làm cho ông phải đi đến chùa Thiếu Lâm quay mặt vào vách 9 năm để đợi Ngài Huệ Khả. Lời của Đạt Ma Tổ Sư có đúng hay không? Đúng! Công đức cùng phước đức không như nhau, giả như Lương Võ Đế hỏi ông “phước đức tôi có lớn không?”. Thì Đạt Ma Tổ Sư nhất định sẽ nói “Thật lớn! Thật lớn! Ông tu phước báo thật quá lớn”. 
Phước đức cùng công đức là có khác biệt, công đức là phải chính mình tu hành. Chúng ta nêu ra một thí dụ đơn giản: Trì giới có công, cái công mà bạn trì giới là có công phu, bạn trì giới có công phu được định chính là đức. Cho nên công là tu nhân, đức là chứng quả, bạn được định rồi vậy mới gọi là công đức. Nếu như giới luật bạn giữ được rất tốt rất nghiêm thế nhưng không thể được định, bạn chưa được định thì việc trì giới của bạn là phước đức vẫn không phải công đức. Bạn trì giới chưa có công phu, bạn chỉ có được phước báo, bạn giữ giới mà được định thì giới luật này mới gọi là có công phu. Vì sao có một số người trì giới có thể được định, có một số người trì giới không thể được định? Ở trong đây chính là đúng pháp và không đúng pháp. Tu học đúng pháp thì mới có công, tu học không đúng pháp thì không có công, cái điểm này các bạn đồng tu không luận là tại gia hay xuất gia đều phải tường tận. Như vậy nhất định phải giữ giới luật, giữ giới mới tương ưng, không giữ giới thì không tương ưng. Vậy làm sao được gọi là công phu chứ? Lục Tổ Đại Sư Huệ Năng dạy người, đặc biệt dạy người trì giới một mực dặn bảo chúng ta “nếu là người chân chánh tu hành, thì không thấy lỗi thế gian”, thì bạn có công phu. Giới luật của ta trì được rất tốt, xem thấy người khác không trì giới thì sanh tâm khinh mạn xem thường người ta, chính mình cống cao ngã mạn, bạn xem trì giới như thế thì được kết quả gì? Được cái cống cao ngã mạn. Người ta trì giới thì được định, từ định khai huệ, còn họ trì giới thì được cái cống cao ngã mạn, vậy thì thành ra thứ gì, thì làm gì có được công phu chứ? Thế nhưng sự trì giới đó có tốt hay không? Là việc tốt! Sự trì giới đó là phước đức, họ đã tu phước hữu lậu trong tam giới sáu đường. Tôi xin nói với các vị là tôi không có nói phước báo nhân-thiên, mà tôi nói là phước báo hữu lậu trong sáu đường, vì sao vậy? Không thấy được phước báo của họ hưởng được ở nhân gian. Việc này chúng ta phải hiểu, nếu như họ không có được cái thân người mà họ được cái thân súc sanh, được cái thân ngạ quỷ đều là hưởng phước. Bạn thấy trong đường súc sanh, người nước ngoài nuôi vật cưng, phước báo của nó thật lớn chúng ta làm sao có thể bì với nó chứ. Người cả nhà đều hầu hạ nó xem nó như là bảo bối vậy, nó là chủ của cả nhà. Chúng ta còn kém xa so với nó, chúng ta một người quan tâm cũng không có. Loài vật cưng đó (súc sanh) là do đời trước đã tu phước. Phước báo trong cõi quỷ cũng không nhỏ, chúng ta đã xem thấy rất nhiều nơi ở trong nhân gian Trung Quốc chúng ta cúng bái những quỷ thần này. Bên cạnh cư sĩ Lâm dường như có một cái miếu thờ Đại Bá Công, đó chính là trong cõi quỷ có phước báo. Sơn thần, thổ địa, thần hoàng đều là cõi ngạ quỷ, họ đã tu phước nên ở trong cõi ngạ quỷ hưởng phước. Cho nên Phật nói với chúng ta nhất định phải tu tích công đức, trong công đức tự nhiên có phước đức, trong phước đức không có công đức, vẫn là công đức tốt. 
Công đức phải tu bằng cách nào? Kinh này của chúng ta hay, kinh này đích thật là đệ nhất kinh mà Thế Tôn 49 năm đã nói; Hoa nghiêm vẫn là hàng kế, còn kinh này chân thật là kinh đệ nhất, trên đề kinh đã nói với chúng ta “Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác”. Hay nói cách khác, tu học của chúng ta phải tương ưng với “Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác” chính là công đức. Chúng ta trì giới, ngay trong giới được tâm thanh tịnh, được tâm bình đẳng thì giới của bạn liền có công. Tâm thanh tịnh chính là định, tu định có công, khai trí tuệ chính là đức, tu định nếu không thể khai trí tuệ thì cái định đó cũng là phước báo. Thế nhưng các vị phải nên biết phước của định cùng phước của giới không như nhau, phước của định lớn hơn phước của giới rất nhiều. Phước của giới có ở trong tam thiện đạo và tam ác đạo, trong tam thiện đạo thì chỉ được hưởng từ cõi trời Đao Lợi, trời Tứ Thiên Vương, cõi A-tu-la và cõi người; còn trong tam ác đạo thì chỉ có địa ngục là không có hưởng phước, còn đường ngạ quỷ, đường súc sanh đều có hưởng phước, đó là phước của giới. Phước của định không ở ác đạo, ít nhất phải ở cõi trời Dạ Ma trở lên. Bạn tu định trong định không thể khai trí tuệ thì chỉ có phước báo, phước báo từ cõi trời Dạ Ma mãi đến cõi trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ đó đều là phước báo của định. Tu định được phước báo không phải công đức, tu định muốn được công đức thì phải khai trí tuệ, nếu khai trí tuệ thì quyết định siêu việt tam giới vĩnh thoát luân hồi, đó là tu định có công. Cho nên “công đức” chúng ta nhất định phải hiểu được rõ tường tận thông suốt thấu đáo. 
Chúng ta xem thấy người ta tu tích công đức, thông thường người thế gian khởi lên ý niệm gì? Là đố kỵ! Xem thấy người khác tốt hơn mình trong lòng liền khó chịu, liền bực bội, nghĩ ra hết cách để chướng ngại, thậm chí còn nghĩ ra cách để phá hoại, phá hoại người tu hành, cái tội lỗi này rất lớn. Còn có một loại Bồ Tát tu tích công đức, Bồ Tát thị hiện ở ngay trong quần chúng xã hội nam nữ, già trẻ, việc họ làm hiện tại chúng ta gọi là việc từ thiện xã hội. Thế nhưng Bồ Tát đã làm việc từ thiện xã hội cùng người thế gian chúng ta làm việc từ thiện xã hội trong đó lại phải có một chút khác biệt, khác biệt ở đâu vậy? Các vị phải tỉ mỉ mà quan sát thì bạn mới có thể thấu hiểu. Bồ Tát tu tích làm việc từ thiện xã hội sau cùng giúp cho họ phá mê khai ngộ, đó chính là đã làm công đức. Nếu như chỉ là làm việc từ thiện xã hội mà không dạy họ phá mê khai ngộ, đó là thuộc về phước đức. Tại vì sao đối với chúng sanh trước phải dùng từ thiện cứu tế để giúp đỡ người? Đó là tứ nhiếp pháp của Phật, phương tiện nhiếp thọ chúng sanh. Ở trên kinh Phật cũng tường tận dạy cho chúng ta “tiên dĩ lợi dục câu, hậu linh nhập Phật trí”. Bạn thấy Phật từ bi đến tột đỉnh. Người thế gian nếu bạn bảo họ đến học Phật thì họ lắc đầu không đến, bạn mời họ đến ăn cơm thì họ rất vui mừng lập tức liền đến. Ăn cơm xong mới bảo họ học Phật vậy thì tương đối dễ dàng, vì sao vậy? Đã nhận ân huệ rồi nếu không nghe thì rất khó coi, luôn là không thể ăn xong rồi thì đi. Cho nên nhà Phật dùng loại từ thiện này “bố thí, ái ngữ, đồng sự, lợi hành” đều là nhiếp thọ chúng sanh. Sau đó nói rõ cho họ chân tướng của vũ trụ nhân sanh, nói rõ chân tướng của chính chúng ta cùng hoàn cảnh sinh hoạt của chính mình, sau khi hiểu rõ chân tướng thì họ quay đầu là bờ. Cách làm này nếu như chấp tướng mà làm thì người làm vẫn là tu phước, nếu như là rời tướng không chấp tướng “tam luân thể không” thì người làm công việc này đó là công đức. Đó là lấy lợi ích chúng sanh làm công đức, do nhân giới được định, đó là công đức tu học của chính mình.
Hai loại công đức này đều sẽ bị người đố kỵ, đều sẽ bị người làm chướng ngại. Cho nên ngay khi chúng ta tu tích phải có trí tuệ cao độ, phải có phương tiện khéo léo, địa vị của chúng ta càng thấp càng tốt. Khi đối đãi với bất cứ người nào cho dù là người phê bình chúng ta, người phỉ báng chúng ta, người làm chướng ngại chúng ta, người phá hoại chúng ta, thì chúng ta cũng phải dùng tâm chân thành cung kính đối đãi với họ, làm cho họ dần dần có thể bị cảm động, có thể giác ngộ, có thể quay đầu đem những ác duyên này đều chuyển biến thành thiện duyên, đem những việc ác này đều chuyển biến thành công đức chân thật, đó gọi là tùy hỷ.
(Trích Đoạn Khai Thị của Pháp sư Tịnh Không)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tung hoa!!!

 Không biết đã bao lâu rồi không viết blog. FB thấy không vào thì cũng ko sao.  Nói chung là yên ổn với công việc của mình. Thực ra là ko yê...