Dĩ nhiên, cần phải thừa nhận rằng nhựa có những lợi
ích riêng. Trọng lượng của nó nhẹ, và có thể linh hoạt đúc nhựa theo nhiều hình
dạng khác nhau. Thách thức lớn nhất mà nó đặt ra là, ở trạng thái ban đầu, nhựa
được chiết xuất từ dầu mỏ – có nghĩa là việc sản xuất nhựa có thể giải phóng ra
một lượng lớn khí thải nhà kính. Vì thế, việc không tái chế nhựa đồng nghĩa với
việc phải tiếp tục xúc tiến các hoạt động khai thác dầu mỏ và giải phóng thêm
nhiều khí thải nhà kính độc hại trong quá trình sản xuất những mẻ nhựa nguyên
sinh tiếp theo. Tệ hơn nữa, nếu nhựa bị đổ ra các dòng sông hoặc đại dương, nó
sẽ dần dần phân hủy trở về hình thái hóa học ban đầu dựa trên dầu mỏ, và chính
chúng ta sẽ hấp thụ nó thông qua những con cá mà chúng ta ăn. Làm sao mà vấn đề
rác thải nhựa lại vượt xa khỏi tầm kiểm soát đến mức này? Những nghiên cứu mà
chúng tôi tiến hành ở Trung tâm Nghiên cứu Nền Kinh tế Tuần hoàn của Closed
Loop Partners cho thấy rằng hiện nay tổng nhu cầu của thị trường đối với nhựa
tái chế là 120 tỉ đô-la, danh sách người mua bao gồm những thương hiệu lớn như
P&G, Unilever, và các tập đoàn sản xuất soda. Tuy nhiên, hiện mới chỉ có 6%
nhu cầu trên được đáp ứng. Có thể thấy rằng có rất nhiều cơ hội đầu tư để trám
vào lỗ hổng này bằng cách đầu tư vào các cơ sở hạ tầng tái chế nhựa.
Vấn đề rác thải nhựa phát sinh bởi vì bản thân nhựa là
một nguyên liệu có rất nhiều công năng với vô vàn lợi thế để có thể tạo ra rất
nhiều sản phẩm, đặc biệt chi phí của nó rẻ hơn gấp nhiều lần so với các nguyên
liệu mà nó thay thế, ví dụ thép, thế nhưng từ vị trí một nguyên liệu có độ bền
cao dùng để thay thế cho các nguyên liệu khác vốn đòi hỏi chi phí cao hơn, nó
lại trở thành nguyên liệu được tạo ra chỉ để vứt đi sau một lần sử dụng. Việc
nhựa trở thành một điều phiền toái như vậy không phải là một thực tế không thể
tránh khỏi, và một lý do giải thích vì sao lại khó loại bỏ nhựa, kể cả nhựa ở
những hình thức đáng chỉ trích nhất, là, theo cách nói của nhà sử học Jeffrey
L. Meikle trong cuốn sách American
Plastic: A Cultural History (tạm dịch: Lịch sử về nhựa ở nước Mỹ từ góc độ
văn hóa): “Rất khó nêu hết công trạng của nhựa bởi vì nó phục vụ rất nhiều chức
năng, đảm nhiệm rất nhiều vai trò, đáp ứng rất nhiều mong muốn.”
Từ điều kỳ diệu trở thành lời nguyền
Trong tự nhiên có tồn tại các loại nhựa được hình
thành một cách tự nhiên và không dựa trên nhiên liệu hóa thạch. Một trong số đó
là cellulose, một nguyên liệu có trong cây cối dùng để chế tạo giấy, sức mạnh
của cellulose giúp cho cây mọc cao. Nó cũng là thành phần cốt lõi của
cellophone, màng bọc thực phẩm bằng nhựa đầu tiên, đồng thời cũng là một nguyên
liệu có thể phân hủy hữu cơ (thật đáng tiếc khi nó lại bị loại màng bọc thực
phẩm nhựa không thể phân hủy hữu cơ thay thế). Một loại nhựa tự nhiên khác là
keratin, có trong sừng của động vật; với trọng lượng nhẹ và khả năng cho ánh
sáng đi qua khi được cắt mỏng, nó là một nguyên liệu được ưa thích dùng để làm
tấm chụp đèn trong thời Trung Cổ.
Loại nhựa tổng hợp đầu tiên được thương mại hóa thành
công, celluloid, được chế tạo ra để thay thế cho các nguyên liệu tự nhiên lấy
từ các loài đang gặp nguy hiểm. Loại nhựa này được sáng chế vào năm 1869 để làm
nguyên liệu thay thế cho ngà voi khi đó đang được khai thác để làm bóng bi-da
bởi vì voi bị săn bắt quá nhiều khiến cho việc lấy ngà voi trở nên khó khăn. Nó
cũng được dùng để chế tạo mai rùa giả, mai rùa tự nhiên được lấy từ mai của một
loài rùa biển tên là đồi mồi. Đây là một nguyên liệu đẹp mắt, thu hút nhu cầu
sử dụng lớn để làm nguyên liệu trang trí cho đồ trang sức, đồ nội thất, và đặc
biệt là để phục vụ cơn cuồng lược đồi mồi hồi thế kỷ 19. Trong cuốn sách Plastic: A Toxic Love Story (tạm dịch:
Nhựa: Một câu chuyện tình độc hại), tác giả Susan Freinkel kể lại về trào lưu
này như sau: Thời đó, phụ nữ thuộc giới thượng lưu ở châu Âu và Mỹ có mốt nuôi
tóc rất dài rồi vấn lên thành những tạo hình kỳ công và tỉ mẩn với độ cao rất
lớn. Lược đồi mồi là công cụ được ưa chuộng để giữ dáng cho những kiểu tóc xa
xỉ ấy.
Nhu cầu về mai rùa lớn đến mức không lâu sau, loài đồi
mồi đã bị săn bắt tới ngưỡng suýt tuyệt chủng. Sự khan hiếm nguyên liệu này
thậm chí còn khiến người ta chém giết lẫn nhau để giành nó trong cuộc thảm sát
Ngatik diễn ra vào năm 1837. Khi đi qua hòn đảo Sapwuahfik ở Thái Bình Dương,
thuyền trưởng C. H. Hart của chiếc thuyền thương mại mang tên Lampton của Australia và thủy thủ đoàn
trông thấy một trữ lượng lớn mai rùa mà họ cho là của loài đồi mồi, vì thế họ
quay trở về để trang bị vũ khí rồi tổ chức một cuộc tấn công nhằm cướp lấy
chúng. Sau khi giết hại 50 thổ dân, rốt cuộc họ chỉ tìm được 11 ki-lô-gram mai đồi
mồi nằm xen lẫn giữa rất nhiều mai rùa vô giá trị (đối với họ) của loài rùa
biển xanh. Mặc dù người ta có mở một cuộc điều tra về vụ việc này, nhưng Hart
và người của ông ta không hề bị kết án.
Mặc dù mai rùa giả được chế tạo từ những năm 1880,
song cho đến nay điều này cũng không cứu được loài đồi mồi, và chúng vẫn đang
nằm trong danh sách các loài bị đe dọa đặc biệt nghiêm trọng. Một phần nguyên
nhân ở đây là vì chúng thường ăn những chiếc túi ni-lông trôi nổi trên đại
dương do nhầm tưởng rằng đó là sứa, món ăn thông dụng của chúng.
Những hậu quả khủng khiếp như vậy mà việc chế tạo nhựa
tổng hợp mang lại là điều không ai có thể lường trước được. Nhựa từng được coi
là “nguyên liệu tuyệt vời với hàng nghìn ứng dụng,” và các sản phẩm nhựa mới
đều đặn ra đời trong những thập niên đầu thế kỷ 20: hộp đựng thuốc lá, gạt tàn
thuốc lá, đài, điện thoại, máy quay phim, bàn chải đánh răng, cúc áo, và bát
đĩa. Băng keo dán ra đời năm 1930, và màng bọc thực phẩm nhựa ra đời năm 1933. Tuy
vậy, phải đến Thế chiến II hoạt động sản xuất nhựa mới thực sự phát triển bùng
nổ, bởi vì gần như tất cả kim loại đều được dùng để chế tạo tàu thuyền, xe bọc
thép, và đạn dược. Quân đội Mỹ buộc phải làm thí nghiệm với các nguyên liệu
khác để thay thế kim loại, và trong cuộc chiến tranh này, nhựa được đưa vào sử
dụng cho mọi mục đích, từ ghế ngồi trong khoang lái máy bay và áo giáp cho đến
lót mũ và dây dù. Chính phủ Mỹ tung ra nhiều khoản trợ cấp lớn để mở rộng số
lượng các cơ sở sản xuất nhựa, và theo thông tin mà Susan Freinkel chia sẻ, sản
lượng nhựa tăng vọt trong giai đoạn chiến tranh, từ ngưỡng 213 triệu pound vào
năm 1939 lên đến 818 triệu pound vào năm 1945. Để chuẩn bị cho cuộc cách mạng
nhựa sau chiến tranh, các nhà sản xuất của Mỹ đã tập trung nhau lại để thành
lập Hiệp hội Ngành Nhựa (SPI) vào năm 1937. Nhóm này thậm chí còn triển khai
một chiến dịch quảng bá rầm rộ trước cả khi chiến tranh kết thúc, họ rải khắp
các mặt báo những bài viết về điều kỳ diệu mang tên nhựa sắp diễn ra, với những
tiêu đề như ĐIỀU GÌ ĐẰNG SAU CUỘC BÙNG NỔ CỦA NGÀNH NHỰA? NHIỀU ỨNG DỤNG ĐÁNG
NGẠC NHIÊN TRONG CHIẾN TRANH SẼ TÌM ĐƯỢC VỊ TRÍ LÂU DÀI TRONG NGÀNH.
Cuộc triển lãm công cộng lớn đầu tiên của ngành nhựa nhằm
giới thiệu những tuyệt phẩm thời hậu chiến đã đạt được thành công lớn, thu hút
một lượng khách tham quan vượt ngoài dự kiến ban đầu đến nỗi chương trình suýt
bị đóng cửa vì lý do an toàn. SPI tổ chức Triển lãm Nhựa Toàn quốc đầu tiên ở
Thành phố New York vào năm 1946 và đón hơn 87.000 khách tham quan. Ở mảng phát
minh, DuPont giới thiệu loại nhựa chống dính tuyệt vời mang tên Teflon. Billy
Glass, một người tham gia giới thiệu sản phẩm trong triển lãm trên, đã biến một
loại nhựa mới khác tên là plexiglass thành các nhạc cụ, từ đàn violin cho đến
kèn và trống snare. Các gian hàng thi nhau khoe về những loại khung cửa sổ
không bao giờ phải cần đến sơn, những chiếc vali siêu khỏe nhưng có trọng lượng
vô cùng nhẹ, vải bọc đồ bằng nhựa chống hoen ố, móc treo áo bằng nhựa, rèm
phòng tắm, khăn trải bàn, và giày dép nhựa. Một phóng viên đưa ra lời tổng kết
về sự đa dạng dồi dào của đồ nhựa ở cuộc triển lãm đó như sau: Ở đây người ta
có thể tìm thấy tất cả mọi thứ, từ “nôi em bé cho đến quan tài, tất cả đều được
đúc từ nhựa.” Ronald Kinnear, người tổ chức chương trình, tự hào nói: “Mới 12
tháng trước, có ai dám nghĩ rằng có thể đúc khuôn được một chiếc xuồng máy cơ
chứ?”
Sự ưu việt của nhựa cho nhiều ứng dụng khác nhau là
không thể phủ nhận. Nhựa Tupperware, cũng được giới thiệu vào năm 1946, có khả
năng giữ tươi thực phẩm lâu hơn rất nhiều và nhờ có nó mà nhiều cuộc liên hoan
đã được tổ chức rất thành công. Màng bọc nhựa được yêu thích tới nỗi tác giả
Susan Freinkel viết rằng: “Mọi người đều rất hồ hởi đón nhận nhựa... đến nỗi từ
‘cellophane’ được coi là từ đẹp thứ ba trong ngôn ngữ Anh, chỉ xếp sau từ ‘mẹ’
và ‘kỷ niệm.’”
Một bài viết trên tờ báo Scripps-Howard năm 1947 khẳng định: “Không có lời hứa vàng nào về
sự phát triển thời hậu chiến tiến gần đến thực tế như những lời hứa của ngành
nhựa.” Tuy nhiên, rắc rối cũng đang trên đường kéo đến khi những sản phẩm nhựa
dùng một lần bắt đầu xuất hiện tràn lan. Trước tiên, phải thừa nhận rằng hầu
hết các sản phẩm nhựa ban đầu không phải được tạo ra để nhằm mục đích nhanh
chóng vứt bỏ chúng; thực ra, độ bền là một trong những thuộc tính được nhấn
mạnh nhất ở nhựa. Nhưng sau đó, vào thập niên 1950, mảng kinh doanh đồ nhựa
dùng một lần phát triển mạnh mẽ, và nó còn được tôn vinh với tinh thần phấn
chấn trong bức ảnh “Lối sống dùng một lần”của tạp chí Life. Những chiếc túi ni-lông dùng một lần đầu tiên được giới thiệu,
nhưng không phải dùng để đựng thực phẩm mà để đựng rác và để bọc các món đồ đã
được lau khô. Sự xuất hiện của các chuỗi nhà hàng bán đồ ăn nhanh mở ra thị
trường cho loại hộp đựng bằng xốp dùng một lần. Một kết quả nhãn tiền là ngay
tại thời điểm cuối thập niên đó, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng rùa biển
cùng nhiều loài động vật biển khác đều đang phải ăn nhựa. Tuy nhiên, những phát
hiện này bị chôn vùi chìm nghỉm trong các bài viết học thuật khác. Phải một
thập niên sau, những phát hiện đầu tiên về mức độ ô nhiễm của nhựa ở các đại dương
mới được thực hiện, và hiệp hội SPI lập tức triển khai các chiến thuật đe dọa
hòng đập tan những mối lo lắng.
Theo thông tin của phóng viên Tik Root, nhà hải dương
học Edward J. Carpenter là người đầu tiên chứng kiến sự xâm lấn của nhựa ở biển
vào năm 1971, khi ông đang thực hiện nghiên cứu cho Viện Hải dương học Woods
Hole ở Bắc Đại Tây Dương. Không lâu sau đó, trong lúc đang làm nghiên cứu dọc
vùng bờ biển New England, một lần nữa ông lại phát hiện thấy một nơi có mật độ
tập trung rác rất cao. Sau khi ông công bố các phát hiện của mình trong hai bài
viết đăng tải trên tạp chí khoa học uy tín Science
vào năm 1972, SPI cử người tới Woods Hole để chất vấn ông ngay trước mặt
cấp trên của ông. Carpenter kể lại với Root rằng: “Rõ ràng là họ rất bất mãn về
điều đó”; và ông thấy cách chất vấn của họ “giống như là đang đe dọa tôi vậy.”
[1] Hệ thống gom rác một dòng: Nghĩa là hệ thống
trong đó tất cả các loại rác đều được gom chung lại với nhau thay vì người đổ
rác phải phân loại rác thành các nhóm khác nhau (ví dụ, giấy báo, bìa cứng,
nhựa, thủy tinh...) để xử lý riêng rẽ từng loại trong quá trình thu gom rác.
(ND)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét