Cách tiếp cận nông nghiệp theo mô hình công nghiệp đã
và đang thống trị nền nông nghiệp trong gần suốt một thế kỷ qua đã khiến đất
đai bị suy thoái vô cùng nghiêm trọng, đồng thời nâng sự lạm dụng phân bón và
thuốc trừ sâu lên những cấp độ rất cực đoan, đến mức cách tiếp cận này đang dần
tiệm cận điểm giới hạn về năng suất, dù rằng dân số thế giới được dự đoán sẽ
tăng thêm 2 tỉ người tới năm 2050. Kết quả là, hành tinh của chúng ta đang tiến
nhanh vào một tương lai mà tại đó, nạn đói trên diện rộng là một khả năng rất
có thể sẽ xảy ra, thậm chí chính hoạt động nông nghiệp lại là nhân tố góp phần
tạo ra các điều kiện thúc đẩy nạn đói. Mọi việc lẽ ra không nhất thiết phải
diễn ra theo chiều hướng này. Phong trào hữu cơ phát triển song song với nền
nông nghiệp công nghiệp, và từ tận những năm 1920 nó đã cung cấp những bằng
chứng đầy thuyết phục về sự ưu việt của phương pháp trồng trọt tự nhiên.
Năm 1905, nhà thực vật 32 tuổi người Anh Albert Howard
cùng người vợ Gabrielle 29 tuổi, một nhà sinh lý học thực vật, đã thực hiện một
chuyến phiêu lưu tuyệt vời. Không lâu sau khi cưới, họ lên đường tới trung tâm
nông nghiệp Pusa ở vùng đông bắc Ấn Độ để thực hiện các hoạt động nghiên cứu
tại viện nông nghiệp hàng đầu của quốc gia này nhằm tìm kiếm phương pháp trồng
ra các giống lúa mỳ và bông khỏe mạnh hơn. Cả hai đều sở hữu bằng cấp của Đại
học Cambridge danh giá, nên theo lẽ thường hẳn là họ sẽ coi những người nông
dân ở vùng đất này là những kẻ lạc hậu. Nhưng không phải thế, khi tới thăm cánh
đồng của những người nông dân này, hai vợ chồng nhận ra rằng họ đã rất xuất sắc
khi làm theo các kỹ thuật cổ đại của phương pháp mà ngày nay chúng ta gọi là phương
pháp trồng trọt hữu cơ. Một người bạn của Albert cùng làm việc với hai vợ chồng
ông trong thời gian đó kể lại rằng Albert “lúc nào cũng nói rằng những điều mà
ông ấy học được từ người nông dân trên cánh đồng của họ còn nhiều hơn so với
những gì mà ông ấy học được từ sách vở.”
Từ giữa thế kỷ 19, phân bón hóa học đã được tôn vinh
là “thần dược” cho ngành trồng trọt, đặc biệt là các hóa chất nitrogen (ni-tơ),
potassium (kali), và phosphate. Lớp đất mặt trên đất canh tác của những người
nông dân đó vốn tương đối ít các chất dinh dưỡng này, thế nhưng họ vẫn tạo ra
được những vụ mùa bội thu rất ấn tượng. Bằng cách nào vậy? Trên đất canh tác họ
trồng luân phiên các loại cây có rễ sâu, bao quanh đó là cây ăn quả và các loại
cây khác, và hệ thống rễ của tất cả các cây trồng này trở thành phân bón tự
nhiên, bơm dưỡng chất vào đất rồi phát tán chúng rộng khắp. Kết quả nghiên cứu
đất của họ cũng cho thấy rất nhiều loại vi khuẩn sống nhờ vào nguồn khoáng chất
trong đất chính là nguồn dưỡng chất tự nhiên bổ sung trong khi việc sử dụng hóa
chất lại giết chết chúng. Đất của những người nông dân này có sức sống và biết
tự tạo ra các loại phân bón hữu cơ cho mình. Vợ chồng Howard nhận ra rằng việc
bảo tồn sức sống của đất, và tốt hơn nữa là làm giàu hàm lượng các chất hữu cơ
trong đất, chính là chìa khóa để xây dựng nên một nền sản xuất vừa có năng suất
cao lại vừa lành mạnh. Ngược lại, phân bón hóa học giết chết đất. Sau khi nhận
ra được điều đó, vợ chồng Howard bắt tay vào giúp nông dân làm giàu thêm nữa
cho đất đai của mình bằng cách phát triển các kỹ thuật tạo chất mùn (ngày nay
thường được gọi là phân bón hữu cơ) của người Trung Quốc và Ấn Độ cổ đại, biến
chúng trở thành một lĩnh vực khoa học hoàn chỉnh về phân hữu cơ.
Cộng đồng nông nghiệp toàn cầu không phải không chú ý
đến những phát hiện của vợ chồng Howard. Năm 1931, sau khi Gabrielle qua đời,
Albert lên tàu trở về Anh. Trên hành trình đi vòng qua châu Phi này, ông được
những người trồng cà phê ở Kenya đang áp dụng các phương pháp mà ông phổ biến
mời ghé lại chơi. Những người trồng chè ở Assam và Ceylon cũng vậy. Vài năm sau
ở Anh, Albert cùng với nhiều nhà cách tân nổi bật nhất trong lĩnh vực nông
nghiệp ở quốc gia này, trong đó bao gồm các vị bá tước, tử tước, và huân tước,
đã tập hợp nhau lại trong một hội nghị chuyên đề thu hút được rất nhiều sự quan
tâm về các phương pháp trồng trọt hữu cơ. Một nhà quý tộc trong số đó là Huân
tước xứ Northbourne, hay còn gọi là Walter James, đã nghĩ ra thuật ngữ “nông
nghiệp hữu cơ” và viết về nó trong cuốn sách Look to the Land (tạm dịch: Nhìn
về đất) được xuất bản năm 1940. Bản thân Albert Howard cũng viết một loạt
các cuốn sách trong hai thập niên 1930 và 1940 để quảng bá các phương pháp
trồng trọt hữu cơ, trong đó nổi tiếng nhất là hai cuốn An Agricultural Testament (tạm dịch: Thánh kinh về nông nghiệp) và The Soil and Health (tạm dịch: Đất và
sức khỏe) được đón nhận rộng rãi và nhận được nhiều lời ca ngợi. Nhưng theo những
gì mà người vợ thứ hai của ông tiết lộ trong một bài viết tưởng nhớ ông sau khi
ông qua đời vào năm 1947, những người này cũng “gợi lên thái độ miệt thị ban
đầu và sau đó sự chống trả điên cuồng” từ các công ty kinh doanh hóa chất và
những người cuồng hóa chất.
Trong cuốn sách The
Omnivore’s Dilemma (tạm dịch: Nan đề của loài ăn tạp), phóng viên Michael
Pollan đã chỉ ra rằng một trong những sự trùng hợp ngẫu nhiên đầy tính mỉa mai
của lịch sử là năm mất của Albert Howard cũng đồng thời là năm mà một nhà máy
có quy mô rất lớn do chính phủ Mỹ xây dựng ở Muscle Shoals, Alabama trong Thế
chiến I để sản xuất thuốc nổ Ammonium nitrate được cải tạo thành nhà máy sản
xuất phân bón hóa học. Nhà máy ở Muscle Shoals cùng với chín cơ sở tương tự
khác do chính phủ vận hành đã được bán lại cho các nhà sản xuất phân bón tư
nhân và các công ty này đã đẩy mạnh việc sản xuất phân bón, từ đó góp phần hạ
thấp giá thành sản phẩm. Cùng lúc đó, chính phủ cũng ban hành nhiều chính sách
khuyến khích người nông dân mua phân bón hóa học với số lượng ngày càng lớn hơn
để họ có thể áp dụng một mô hình canh tác mới, đối lập với hệ thống hữu cơ mà
Howard khởi xướng.
Năm 1944, Norman Borlaug, một chuyên gia nhân giống
cây trồng 30 tuổi, đi tới Mexico để giúp những người nông dân trồng lúa mỳ cải
thiện mùa màng. Borlaug lớn lên trong một trang trại nhỏ ở Iowa và theo học
chuyên ngành nông nghiệp trong những năm Dust Bowl[1] (Bát
Bụi) kinh hoàng. Xuất phát từ niềm tin rằng việc thiếu sức mạnh công nghệ đã
gây ra thảm họa trên, ông tiến hành các thí nghiệm tạo ra các loại cây trồng
lai khỏe mạnh hơn và thúc đẩy sự phát triển của chúng bằng cách pha trộn khéo
léo các loại phân bón tổng hợp. Trong thời gian ở Mexico, ông tạo được một
giống lùa mỳ lai lùn với thân cây thấp hơn nhiều so với hầu hết các dòng lúa mỳ
khác, và đặc điểm này khiến cho thân cây khỏe mạnh hơn, mang lại sản lượng tổng
thể cao hơn nhiều. Thông tin về thành tựu này được lan truyền mạnh mẽ trong
cộng đồng nông nghiệp.
Trong những năm sau khi chiến tranh kết thúc, dân số
bùng nổ ở khắp mọi nơi trên toàn cầu. Ở Mỹ, dân số tăng vọt từ 130 triệu người
vào năm 1940 lên tới 151 triệu người vào năm 1950. Xu hướng này làm dấy lên nỗi
lo sợ rằng những nạn đói có thể sẽ dồn dập kéo đến nếu như không có cách nào để
đẩy mạnh sản lượng của những vụ mùa lớn như lúa mỳ, ngô, đậu nành, gạo, và
nhiều loại cây lương thực quan trọng khác. Lúc này, Bộ Nông nghiệp Mỹ và các tổ
chức lớn trên thế giới bắt đầu ra sức ủng hộ các giống cây lai và phương pháp
sử dụng hóa chất tổng hợp của Borlaug, lấy đó làm giải pháp cho vấn nạn đang lơ
lửng treo trên đầu nhân loại, và vì thế những phương pháp trồng trọt hữu cơ đang
đâm chồi bỗng chốc bị đè bẹp không thương tiếc.
Một hiệu ứng ngược khủng khiếp của việc áp dụng cách
tiếp cận của Borlaug ở Mỹ là sự gia tăng sản lượng ngô, lúa mỳ, và đậu nành đã
khiến nhiều nông dân dành toàn bộ đất canh tác của mình chỉ để trồng một hoặc
hai loại cây này. Ngoài ra, người ta cũng dành ra thêm nhiều đất để trồng các
loại ngũ cốc có chất lượng thấp hơn cho gia súc ăn (gọi là “cây trồng hàng
hóa”), nông dân và các chủ trại gia súc không còn chăn thả động vật trên đồng
nữa mà đưa chúng vào các khu chăn nuôi tập trung với mật độ dày đặc. Dày đặc
như thế nào? Hầu hết các tiểu bang đều cho phép nhốt 10.000 con lợn, 125.000
con gà, và 1.000 con bò trên một mảnh đất có diện tích rộng khoảng 40.000 mét
vuông. Để bạn đọc tiện so sánh, với phương pháp chăn thả, người ta đề xuất dành
7.000 mét vuông cho mỗi con bò, nghĩa là với 40.000 mét vuông thì chỉ vừa vặn
cho khoảng 6 con bò mà thôi. Hơn nữa, bởi vì loài bò tiến hóa để ăn cỏ chứ
không phải ngô, nên để chúng khỏe mạnh, người ta phải cho chúng dùng cả thuốc
kháng sinh.
Ngày nay, chỉ có 27% quỹ đất nông nghiệp ở Mỹ được
dùng để sản xuất lương thực cho con
người, phần còn lại dành cho các loại cây trồng hàng hóa. Ba loại ngũ cốc quan
trọng và cây bông thống trị gần như toàn bộ quỹ đất nông nghiệp ở Mỹ, đến mức
chỉ có 2% đất canh tác được dùng để trồng các loại rau củ quả. Trong khi đó,
rất nhiều loại nông sản vốn trước đó vẫn được trồng thì cho đến nay đều dần dần
bị triệt tiêu. Tại thời điểm đầu thế kỷ 20, người nông dân Mỹ trồng 544 loại cải
bắp, 497 loại rau xà lách, 408 loại đậu, và 408 loại cà chua. Sự thay đổi sau
đó được tạp chí Fast Company tóm tắt
lại rất súc tích như sau: “Trong vòng 80 năm chúng ta đã để mất 93% sự đa dạng
trong các loại giống cây trồng lương thực.”
Sau chiến tranh, số lượng các trang trại được cơ khí
hóa ngày càng nhiều lên, rất nhiều loại máy móc phục vụ mùa màng với hiệu suất
cao ra đời. Như Rachel Carson đã chỉ ra, sự kết hợp giữa sản lượng cao, sự tập
trung vào một số ít loại cây trồng, và xu hướng cơ khí hóa đã dẫn đến tình
trạng dư thừa quá mức của các loại cây trồng chính. Hậu quả tiếp theo là giá cả
sụt giảm, và nhiều trang trại phải đối mặt với nguy cơ phá sản cận kề. Và thế
là chính phủ lại tung ra cái gọi là chính sách trợ giá với những biện pháp như
trả tiền cho nông dân để họ không trồng trọt nữa mà bỏ đất hoang và trợ cấp bảo
hiểm cây trồng để bồi thường cho nông dân khi họ chịu thiệt hại, vì thế khiến
cho việc trồng trọt trở thành một miếng mồi ngon để nhận những khoản trợ cấp. Để
trợ giá cho các loại cây trồng hàng hóa, chính phủ thu mua chúng với số lượng
lớn rồi đem cất trong những hầm chứa khổng lồ. Những người nông dân chăn nuôi
bò sữa cũng nhận được hỗ trợ, theo đó chính phủ cũng thu mua nhiều lượng lớn
sữa, bơ, và pho mai. Sau đây là một bằng chứng kỳ cục cho thấy hệ thống này đã
trở nên lố bịch như thế nào: Các sản phẩm bơ sữa đó được cất trong các tủ cấp
đông và phòng mát đặt trong một mỏ đá vôi cũ và trong một vài hang động ngầm ở
ngoại ô Thành phố Kansas, Missouri.
Tuy vậy, sự lố bịch của hệ thống này lại nhận được sự
hậu thuẫn nhiệt tình của các tập đoàn lớn trong lĩnh vực nông nghiệp (hay còn
gọi là các Big Ag). Sau quá trình sát nhập không ngừng nghỉ, hiện nay chỉ còn
sáu tập đoàn thống trị mảng kinh doanh “các sản phẩm đầu vào,” nghĩa là cây
giống, phân bón, và thuốc trừ sâu: Dow, Monsanto (công ty này vừa mới sát nhập
với Bayer và lấy tên của Bayer), DuPont, BASF, và Syngenta. Trên thị trường
hiện nay cũng chỉ còn lại ba tập đoàn chi phối việc thu mua bốn loại cây trồng
chính của nông dân, bao gồm: Cargill, Archer Daniels Midland, và CHS Inc. Mối
quan tâm của những tập đoàn này nằm ở chỗ làm sao để bán cho nông dân ngày càng
nhiều các sản phẩm đầu vào, với mức giá ngày càng tăng. Một trong những hệ quả
ở đây là chỉ có 1% quỹ đất nông nghiệp ở Mỹ được dùng cho trồng trọt hữu cơ, dù
rằng nhu cầu đối với các sản phẩm hữu cơ hiện đang rất cao đến mức mỗi năm
chúng ta đều nhập từ nước ngoài về hàng tỉ đô-la các sản phẩm hữu cơ.
Trong khi đó, đa phần nông dân đều đang bị chèn ép với
cường độ ngày càng cao, lợi nhuận mà họ kiếm được chỉ ở mức rất thấp ngay cả
trong những năm bội thu và họ thường xuyên bị thua lỗ, dẫu được trợ cấp bảo
hiểm cây trồng nhưng khoản tiền này thường là không đủ để bù đắp cho họ. Độ phủ
của nền công nghiệp hóa đối với lĩnh vực nông nghiệp đã tạo ra một nhận thức
rất phổ biến rằng hầu hết các trang trại đều là các cơ sở hoạt động lớn do các
tập đoàn vận hành, trong khi trên thực tế tới 97% số trang trại ở Mỹ hiện vẫn
thuộc quyền sở hữu của các gia đình, và hầu hết đều có diện tích chưa đến 1,5
ki-lô-mét vuông. Tuy nhiên, trong tổng số 15-17 tỉ đô-la tiền trợ cấp hằng năm
mà chính phủ chi ra trong suốt mấy thập niên trở lại đây, đại đa số đều rơi vào
tay một nhóm thiểu số gồm các trang trại lớn do các tập đoàn vận hành. Ví dụ, từ
năm 1995 đến 2017, 10% trang trại lớn nhất nước Mỹ nhận được 77% trong tổng số
205 tỉ đô-la tiền trợ cấp. Trong khi đó, đối với các trang trại gia đình, bóng
ma phá sản luôn thường trực, nhiều người bị đẩy vào những tình cảnh tuyệt vọng
đến nỗi tỉ lệ tự tử ở nông dân Mỹ hiện đã tăng hơn 50% so với dân số chung.
Vì sao một hệ thống bất công như vậy lại tồn tại? Chủ
yếu là do sức mạnh chính trị của người nông dân ngày càng giảm, trong khi sức
mạnh vận động hành lang của nhóm Big Ag lại ngày càng tăng. Số lượng nông dân ở
Mỹ bắt đầu giảm mạnh từ thập niên 1950, từ 30,5 triệu người trước Thế chiến II
(chiếm 23% dân số và là nhóm cử tri lớn nhất nước) xuống còn 2 triệu người như
hiện nay. Sự đóng góp của các tập đoàn cho chiến dịch của các chính trị gia
thừa để họ bù đắp cho bất kỳ ảnh hưởng bất lợi nào mà người nông dân có thể
mang đến cho họ.
[1] Dust Bowl (Bát Bụi): Thuật ngữ chỉ giai đoạn
diễn ra nhiều đợt bão bụi nghiêm trọng trên các thảo nguyên ở Mỹ và Canada
trong thập niên 1930, nguyên nhân là do tình trạng hạn hán kéo dài và do người
ta không áp dụng các phương pháp canh tác trên đất khô để ngăn chặn các quá
trình trầm tích gió thổi qua. (ND)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét