Thứ Tư, 16 tháng 2, 2022

 

Cách tiếp cận nông nghiệp theo mô hình công nghiệp đã và đang thống trị nền nông nghiệp trong gần suốt một thế kỷ qua đã khiến đất đai bị suy thoái vô cùng nghiêm trọng, đồng thời nâng sự lạm dụng phân bón và thuốc trừ sâu lên những cấp độ rất cực đoan, đến mức cách tiếp cận này đang dần tiệm cận điểm giới hạn về năng suất, dù rằng dân số thế giới được dự đoán sẽ tăng thêm 2 tỉ người tới năm 2050. Kết quả là, hành tinh của chúng ta đang tiến nhanh vào một tương lai mà tại đó, nạn đói trên diện rộng là một khả năng rất có thể sẽ xảy ra, thậm chí chính hoạt động nông nghiệp lại là nhân tố góp phần tạo ra các điều kiện thúc đẩy nạn đói. Mọi việc lẽ ra không nhất thiết phải diễn ra theo chiều hướng này. Phong trào hữu cơ phát triển song song với nền nông nghiệp công nghiệp, và từ tận những năm 1920 nó đã cung cấp những bằng chứng đầy thuyết phục về sự ưu việt của phương pháp trồng trọt tự nhiên.

Năm 1905, nhà thực vật 32 tuổi người Anh Albert Howard cùng người vợ Gabrielle 29 tuổi, một nhà sinh lý học thực vật, đã thực hiện một chuyến phiêu lưu tuyệt vời. Không lâu sau khi cưới, họ lên đường tới trung tâm nông nghiệp Pusa ở vùng đông bắc Ấn Độ để thực hiện các hoạt động nghiên cứu tại viện nông nghiệp hàng đầu của quốc gia này nhằm tìm kiếm phương pháp trồng ra các giống lúa mỳ và bông khỏe mạnh hơn. Cả hai đều sở hữu bằng cấp của Đại học Cambridge danh giá, nên theo lẽ thường hẳn là họ sẽ coi những người nông dân ở vùng đất này là những kẻ lạc hậu. Nhưng không phải thế, khi tới thăm cánh đồng của những người nông dân này, hai vợ chồng nhận ra rằng họ đã rất xuất sắc khi làm theo các kỹ thuật cổ đại của phương pháp mà ngày nay chúng ta gọi là phương pháp trồng trọt hữu cơ. Một người bạn của Albert cùng làm việc với hai vợ chồng ông trong thời gian đó kể lại rằng Albert “lúc nào cũng nói rằng những điều mà ông ấy học được từ người nông dân trên cánh đồng của họ còn nhiều hơn so với những gì mà ông ấy học được từ sách vở.”

Từ giữa thế kỷ 19, phân bón hóa học đã được tôn vinh là “thần dược” cho ngành trồng trọt, đặc biệt là các hóa chất nitrogen (ni-tơ), potassium (kali), và phosphate. Lớp đất mặt trên đất canh tác của những người nông dân đó vốn tương đối ít các chất dinh dưỡng này, thế nhưng họ vẫn tạo ra được những vụ mùa bội thu rất ấn tượng. Bằng cách nào vậy? Trên đất canh tác họ trồng luân phiên các loại cây có rễ sâu, bao quanh đó là cây ăn quả và các loại cây khác, và hệ thống rễ của tất cả các cây trồng này trở thành phân bón tự nhiên, bơm dưỡng chất vào đất rồi phát tán chúng rộng khắp. Kết quả nghiên cứu đất của họ cũng cho thấy rất nhiều loại vi khuẩn sống nhờ vào nguồn khoáng chất trong đất chính là nguồn dưỡng chất tự nhiên bổ sung trong khi việc sử dụng hóa chất lại giết chết chúng. Đất của những người nông dân này có sức sống và biết tự tạo ra các loại phân bón hữu cơ cho mình. Vợ chồng Howard nhận ra rằng việc bảo tồn sức sống của đất, và tốt hơn nữa là làm giàu hàm lượng các chất hữu cơ trong đất, chính là chìa khóa để xây dựng nên một nền sản xuất vừa có năng suất cao lại vừa lành mạnh. Ngược lại, phân bón hóa học giết chết đất. Sau khi nhận ra được điều đó, vợ chồng Howard bắt tay vào giúp nông dân làm giàu thêm nữa cho đất đai của mình bằng cách phát triển các kỹ thuật tạo chất mùn (ngày nay thường được gọi là phân bón hữu cơ) của người Trung Quốc và Ấn Độ cổ đại, biến chúng trở thành một lĩnh vực khoa học hoàn chỉnh về phân hữu cơ.

Cộng đồng nông nghiệp toàn cầu không phải không chú ý đến những phát hiện của vợ chồng Howard. Năm 1931, sau khi Gabrielle qua đời, Albert lên tàu trở về Anh. Trên hành trình đi vòng qua châu Phi này, ông được những người trồng cà phê ở Kenya đang áp dụng các phương pháp mà ông phổ biến mời ghé lại chơi. Những người trồng chè ở Assam và Ceylon cũng vậy. Vài năm sau ở Anh, Albert cùng với nhiều nhà cách tân nổi bật nhất trong lĩnh vực nông nghiệp ở quốc gia này, trong đó bao gồm các vị bá tước, tử tước, và huân tước, đã tập hợp nhau lại trong một hội nghị chuyên đề thu hút được rất nhiều sự quan tâm về các phương pháp trồng trọt hữu cơ. Một nhà quý tộc trong số đó là Huân tước xứ Northbourne, hay còn gọi là Walter James, đã nghĩ ra thuật ngữ “nông nghiệp hữu cơ” và viết về nó trong cuốn sách Look to the Land (tạm dịch: Nhìn về đất) được xuất bản năm 1940. Bản thân Albert Howard cũng viết một loạt các cuốn sách trong hai thập niên 1930 và 1940 để quảng bá các phương pháp trồng trọt hữu cơ, trong đó nổi tiếng nhất là hai cuốn An Agricultural Testament (tạm dịch: Thánh kinh về nông nghiệp) và The Soil and Health (tạm dịch: Đất và sức khỏe) được đón nhận rộng rãi và nhận được nhiều lời ca ngợi. Nhưng theo những gì mà người vợ thứ hai của ông tiết lộ trong một bài viết tưởng nhớ ông sau khi ông qua đời vào năm 1947, những người này cũng “gợi lên thái độ miệt thị ban đầu và sau đó sự chống trả điên cuồng” từ các công ty kinh doanh hóa chất và những người cuồng hóa chất.

Trong cuốn sách The Omnivore’s Dilemma (tạm dịch: Nan đề của loài ăn tạp), phóng viên Michael Pollan đã chỉ ra rằng một trong những sự trùng hợp ngẫu nhiên đầy tính mỉa mai của lịch sử là năm mất của Albert Howard cũng đồng thời là năm mà một nhà máy có quy mô rất lớn do chính phủ Mỹ xây dựng ở Muscle Shoals, Alabama trong Thế chiến I để sản xuất thuốc nổ Ammonium nitrate được cải tạo thành nhà máy sản xuất phân bón hóa học. Nhà máy ở Muscle Shoals cùng với chín cơ sở tương tự khác do chính phủ vận hành đã được bán lại cho các nhà sản xuất phân bón tư nhân và các công ty này đã đẩy mạnh việc sản xuất phân bón, từ đó góp phần hạ thấp giá thành sản phẩm. Cùng lúc đó, chính phủ cũng ban hành nhiều chính sách khuyến khích người nông dân mua phân bón hóa học với số lượng ngày càng lớn hơn để họ có thể áp dụng một mô hình canh tác mới, đối lập với hệ thống hữu cơ mà Howard khởi xướng.

Năm 1944, Norman Borlaug, một chuyên gia nhân giống cây trồng 30 tuổi, đi tới Mexico để giúp những người nông dân trồng lúa mỳ cải thiện mùa màng. Borlaug lớn lên trong một trang trại nhỏ ở Iowa và theo học chuyên ngành nông nghiệp trong những năm Dust Bowl[1] (Bát Bụi) kinh hoàng. Xuất phát từ niềm tin rằng việc thiếu sức mạnh công nghệ đã gây ra thảm họa trên, ông tiến hành các thí nghiệm tạo ra các loại cây trồng lai khỏe mạnh hơn và thúc đẩy sự phát triển của chúng bằng cách pha trộn khéo léo các loại phân bón tổng hợp. Trong thời gian ở Mexico, ông tạo được một giống lùa mỳ lai lùn với thân cây thấp hơn nhiều so với hầu hết các dòng lúa mỳ khác, và đặc điểm này khiến cho thân cây khỏe mạnh hơn, mang lại sản lượng tổng thể cao hơn nhiều. Thông tin về thành tựu này được lan truyền mạnh mẽ trong cộng đồng nông nghiệp.

Trong những năm sau khi chiến tranh kết thúc, dân số bùng nổ ở khắp mọi nơi trên toàn cầu. Ở Mỹ, dân số tăng vọt từ 130 triệu người vào năm 1940 lên tới 151 triệu người vào năm 1950. Xu hướng này làm dấy lên nỗi lo sợ rằng những nạn đói có thể sẽ dồn dập kéo đến nếu như không có cách nào để đẩy mạnh sản lượng của những vụ mùa lớn như lúa mỳ, ngô, đậu nành, gạo, và nhiều loại cây lương thực quan trọng khác. Lúc này, Bộ Nông nghiệp Mỹ và các tổ chức lớn trên thế giới bắt đầu ra sức ủng hộ các giống cây lai và phương pháp sử dụng hóa chất tổng hợp của Borlaug, lấy đó làm giải pháp cho vấn nạn đang lơ lửng treo trên đầu nhân loại, và vì thế những phương pháp trồng trọt hữu cơ đang đâm chồi bỗng chốc bị đè bẹp không thương tiếc.

Một hiệu ứng ngược khủng khiếp của việc áp dụng cách tiếp cận của Borlaug ở Mỹ là sự gia tăng sản lượng ngô, lúa mỳ, và đậu nành đã khiến nhiều nông dân dành toàn bộ đất canh tác của mình chỉ để trồng một hoặc hai loại cây này. Ngoài ra, người ta cũng dành ra thêm nhiều đất để trồng các loại ngũ cốc có chất lượng thấp hơn cho gia súc ăn (gọi là “cây trồng hàng hóa”), nông dân và các chủ trại gia súc không còn chăn thả động vật trên đồng nữa mà đưa chúng vào các khu chăn nuôi tập trung với mật độ dày đặc. Dày đặc như thế nào? Hầu hết các tiểu bang đều cho phép nhốt 10.000 con lợn, 125.000 con gà, và 1.000 con bò trên một mảnh đất có diện tích rộng khoảng 40.000 mét vuông. Để bạn đọc tiện so sánh, với phương pháp chăn thả, người ta đề xuất dành 7.000 mét vuông cho mỗi con bò, nghĩa là với 40.000 mét vuông thì chỉ vừa vặn cho khoảng 6 con bò mà thôi. Hơn nữa, bởi vì loài bò tiến hóa để ăn cỏ chứ không phải ngô, nên để chúng khỏe mạnh, người ta phải cho chúng dùng cả thuốc kháng sinh.

Ngày nay, chỉ có 27% quỹ đất nông nghiệp ở Mỹ được dùng để sản xuất lương thực cho  con người, phần còn lại dành cho các loại cây trồng hàng hóa. Ba loại ngũ cốc quan trọng và cây bông thống trị gần như toàn bộ quỹ đất nông nghiệp ở Mỹ, đến mức chỉ có 2% đất canh tác được dùng để trồng các loại rau củ quả. Trong khi đó, rất nhiều loại nông sản vốn trước đó vẫn được trồng thì cho đến nay đều dần dần bị triệt tiêu. Tại thời điểm đầu thế kỷ 20, người nông dân Mỹ trồng 544 loại cải bắp, 497 loại rau xà lách, 408 loại đậu, và 408 loại cà chua. Sự thay đổi sau đó được tạp chí Fast Company tóm tắt lại rất súc tích như sau: “Trong vòng 80 năm chúng ta đã để mất 93% sự đa dạng trong các loại giống cây trồng lương thực.”

Sau chiến tranh, số lượng các trang trại được cơ khí hóa ngày càng nhiều lên, rất nhiều loại máy móc phục vụ mùa màng với hiệu suất cao ra đời. Như Rachel Carson đã chỉ ra, sự kết hợp giữa sản lượng cao, sự tập trung vào một số ít loại cây trồng, và xu hướng cơ khí hóa đã dẫn đến tình trạng dư thừa quá mức của các loại cây trồng chính. Hậu quả tiếp theo là giá cả sụt giảm, và nhiều trang trại phải đối mặt với nguy cơ phá sản cận kề. Và thế là chính phủ lại tung ra cái gọi là chính sách trợ giá với những biện pháp như trả tiền cho nông dân để họ không trồng trọt nữa mà bỏ đất hoang và trợ cấp bảo hiểm cây trồng để bồi thường cho nông dân khi họ chịu thiệt hại, vì thế khiến cho việc trồng trọt trở thành một miếng mồi ngon để nhận những khoản trợ cấp. Để trợ giá cho các loại cây trồng hàng hóa, chính phủ thu mua chúng với số lượng lớn rồi đem cất trong những hầm chứa khổng lồ. Những người nông dân chăn nuôi bò sữa cũng nhận được hỗ trợ, theo đó chính phủ cũng thu mua nhiều lượng lớn sữa, bơ, và pho mai. Sau đây là một bằng chứng kỳ cục cho thấy hệ thống này đã trở nên lố bịch như thế nào: Các sản phẩm bơ sữa đó được cất trong các tủ cấp đông và phòng mát đặt trong một mỏ đá vôi cũ và trong một vài hang động ngầm ở ngoại ô Thành phố Kansas, Missouri.

Tuy vậy, sự lố bịch của hệ thống này lại nhận được sự hậu thuẫn nhiệt tình của các tập đoàn lớn trong lĩnh vực nông nghiệp (hay còn gọi là các Big Ag). Sau quá trình sát nhập không ngừng nghỉ, hiện nay chỉ còn sáu tập đoàn thống trị mảng kinh doanh “các sản phẩm đầu vào,” nghĩa là cây giống, phân bón, và thuốc trừ sâu: Dow, Monsanto (công ty này vừa mới sát nhập với Bayer và lấy tên của Bayer), DuPont, BASF, và Syngenta. Trên thị trường hiện nay cũng chỉ còn lại ba tập đoàn chi phối việc thu mua bốn loại cây trồng chính của nông dân, bao gồm: Cargill, Archer Daniels Midland, và CHS Inc. Mối quan tâm của những tập đoàn này nằm ở chỗ làm sao để bán cho nông dân ngày càng nhiều các sản phẩm đầu vào, với mức giá ngày càng tăng. Một trong những hệ quả ở đây là chỉ có 1% quỹ đất nông nghiệp ở Mỹ được dùng cho trồng trọt hữu cơ, dù rằng nhu cầu đối với các sản phẩm hữu cơ hiện đang rất cao đến mức mỗi năm chúng ta đều nhập từ nước ngoài về hàng tỉ đô-la các sản phẩm hữu cơ.

Trong khi đó, đa phần nông dân đều đang bị chèn ép với cường độ ngày càng cao, lợi nhuận mà họ kiếm được chỉ ở mức rất thấp ngay cả trong những năm bội thu và họ thường xuyên bị thua lỗ, dẫu được trợ cấp bảo hiểm cây trồng nhưng khoản tiền này thường là không đủ để bù đắp cho họ. Độ phủ của nền công nghiệp hóa đối với lĩnh vực nông nghiệp đã tạo ra một nhận thức rất phổ biến rằng hầu hết các trang trại đều là các cơ sở hoạt động lớn do các tập đoàn vận hành, trong khi trên thực tế tới 97% số trang trại ở Mỹ hiện vẫn thuộc quyền sở hữu của các gia đình, và hầu hết đều có diện tích chưa đến 1,5 ki-lô-mét vuông. Tuy nhiên, trong tổng số 15-17 tỉ đô-la tiền trợ cấp hằng năm mà chính phủ chi ra trong suốt mấy thập niên trở lại đây, đại đa số đều rơi vào tay một nhóm thiểu số gồm các trang trại lớn do các tập đoàn vận hành. Ví dụ, từ năm 1995 đến 2017, 10% trang trại lớn nhất nước Mỹ nhận được 77% trong tổng số 205 tỉ đô-la tiền trợ cấp. Trong khi đó, đối với các trang trại gia đình, bóng ma phá sản luôn thường trực, nhiều người bị đẩy vào những tình cảnh tuyệt vọng đến nỗi tỉ lệ tự tử ở nông dân Mỹ hiện đã tăng hơn 50% so với dân số chung.

Vì sao một hệ thống bất công như vậy lại tồn tại? Chủ yếu là do sức mạnh chính trị của người nông dân ngày càng giảm, trong khi sức mạnh vận động hành lang của nhóm Big Ag lại ngày càng tăng. Số lượng nông dân ở Mỹ bắt đầu giảm mạnh từ thập niên 1950, từ 30,5 triệu người trước Thế chiến II (chiếm 23% dân số và là nhóm cử tri lớn nhất nước) xuống còn 2 triệu người như hiện nay. Sự đóng góp của các tập đoàn cho chiến dịch của các chính trị gia thừa để họ bù đắp cho bất kỳ ảnh hưởng bất lợi nào mà người nông dân có thể mang đến cho họ.



[1] Dust Bowl (Bát Bụi): Thuật ngữ chỉ giai đoạn diễn ra nhiều đợt bão bụi nghiêm trọng trên các thảo nguyên ở Mỹ và Canada trong thập niên 1930, nguyên nhân là do tình trạng hạn hán kéo dài và do người ta không áp dụng các phương pháp canh tác trên đất khô để ngăn chặn các quá trình trầm tích gió thổi qua. (ND)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tung hoa!!!

 Không biết đã bao lâu rồi không viết blog. FB thấy không vào thì cũng ko sao.  Nói chung là yên ổn với công việc của mình. Thực ra là ko yê...