Chủ Nhật, 11 tháng 9, 2016

Ẩn tu


“Tiện năng tháo tâm dục đức. Hối tích thao danh, uẩn tố tinh thần, huyên hiêu chỉ tuyệt”.
(Có thể mới hay rửa lòng nuôi đức, ẩn tích mai danh, chứa nhóm tinh thần, xa lánh ồn náo)

Quy Sơn Cảnh Sách văn.

------------

Hòa thượng Thích Thanh Từ giảng:

“Người tu trước phải rửa tâm nuôi đức, kế đến ẩn hành tung chôn vùi tên tuổi để chứa nhóm tinh thần cho trong sạch, muốn thế phải xa lìa chỗ ồn náo. Sở dĩ chúng ta không thể gội rửa tâm hồn, nuôi dưỡng đức hạnh cũng chỉ vì: một phần là hiện tướng sờ sờ, hai là tên tuổi thiên hạ đều biết. Vì hiện tướng sờ sờ nên ai thấy cũng mời, nay đi chỗ này, mai đi chỗ nọ, đi mãi thì làm sao có ngày giờ để gội rửa tâm thần? Vì thế người tu thường ở núi rừng xa vắng, cốt để người không gặp, tên tuổi chẳng ai biết đến, thì mới có cơ hội uẩn tố tinh thần. Ngay như tôi khi xưa suốt mấy năm lăng xăng làm việc này việc nọ, lúc ra đây nếu tôi không tuyên bố nhập thất chắc cũng không làm gì được. Vì ai thấy cũng mời, thì rảnh rang đâu lo việc của mình? Nhờ ẩn đi không ai biết tên thấy mặt, mới từ từ nuôi dưỡng cái cao siêu của mình, mới gội rửa dần những cấu bợn nơi mình, rồi sau mới có thể làm được đôi chút lợi ích thật sự cho người. Cứ mãi hòa trong cái ngàu đục thì biết đến bao giờ mình mới trong?…”

Thứ Bảy, 27 tháng 8, 2016

Tối nay tôi vừa làm một chuyến đi bộ loanh quanh. Đi bộ giúp đầu óc thư thái hơn. Dù rằng đi bộ ngoài đường phố thì cũng chẳng lấy gì làm thú cho lắm, chưa kể mỗi khi đi như vậy, hai lòng bàn tay tôi lại ngứa ran lên, về đến nhà một lúc mới khỏi. Tôi đoán không khí ở đây không được trong lành lắm.

Là tôi đang có chuyện để nghĩ. Có lẽ, bấy lâu nay tôi đã quá chìm đắm trong thế giới khép kín của mình, hành động theo những ý thích nhất thời của bản thân mà không để ý tới người khác, và trở thành kẻ ích kỷ và đớn hèn.

Tôi đã bỏ công ty cũ trong lúc dự án sách trong đó có tôi tham gia đang vào lúc dầu sôi lửa bỏng. Tôi không chịu được áp lực đó, tôi không chịu được sức ép từ một người sếp tuy tử tế nhưng lúc nào cũng căn cơ đến từng ngày tiến độ - bởi tôi là kẻ vô tổ chức bẩm sinh. Và tôi đã bỏ chạy. Tôi không hề nghĩ rằng điều đó có gì hệ trọng lắm. Cho đến ngày hôm nay. Tôi gián tiếp được nghe một lời trách cứ - một lời trách cứ hết sức thỏa đáng.

Dĩ nhiên, mọi ân hận đều đã muộn màng. Tôi phải rút ra bài học và đi tiếp. Chỉ là, sự việc này khiến tôi giật mình: còn bao nhiêu điều không hay, không phải mà tôi đã, đang, và sẽ làm mà tôi không hề hay biết?

Thứ Sáu, 26 tháng 8, 2016

Vị thầy được thù diệu, 
Con đến với câu hỏi, 
Cần nhìn đời thế nào, 
Để thần chết không thấy. 

Thế Tôn:

Này Mô-gha-ra-ja, 
Hãy nhìn đời trống không, 
Luôn luôn giữ chánh niệm, 
Nhô lên ngã tùy kiến, 
Như vậy vượt tử vong, 
Hãy nhìn đời như vậy, 
Thần chết không thấy được.

Kinh Nikaya
Udaya:

Đời cái gì trói buộc,
Cái gì, đời vận hành?
Do đoạn được cái gì,
Được gọi là Niết-bàn?

Thế Tôn:

Đời bị hỷ trói buộc,
Suy tầm là sở hành,
Do đoạn được khát ái,
Được gọi là Niết-bàn.

Kinh Nikaya
Hãy tu tập thiền định 
Chớ làm kẻ lang thang, 
Chớ ưa thích trạo cử, 
Đừng rơi vào phóng dật, 
Đối với các chỗ ngồi, 
Cùng với các chỗ nằm, 
Tỷ-kheo hãy an trú, 
Những chỗ không tiếng động.

***

Ngủ nghỉ có chừng mực, 
Chớ có ngủ quá nhiều, 
Hãy luôn luôn tỉnh thức, 
Nỗ lực và nhiệt tâm,
Hãy từ bỏ biếng nhác, 
Man trá, cười, chơi đùa, 
Hãy từ bỏ dâm dục, 
Bỏ ưa thích trang điểm. 

***

Chớ có dùng bùa chú, 
A-thar-va Vệ-đà, 
Chớ tổ chức đoán mộng, 
Coi tướng và xem sao, 
Mong rằng đệ tử Ta, 
Không đoán tiếng thú kêu, 
Không chữa bệnh không sanh, 
Không hành nghề lang băm.

***

Tỷ-kheo không run sợ, 
Khi bị người chỉ trích, 
Cũng không có cống cao, 
Khi được khen tán thán, 
Hãy từ bỏ tham ái, 
Cùng với tánh xan tham, 
Kể luôn cả phẫn nộ, 
Cùng với nói hai lưỡi.

Kinh Nikaya
Không chấp thủ triền phược,
Ẩn sĩ sống ở đời,
Giữa tranh luận khởi lên,
Không theo phe phái nào,
Sống an tịnh, hỷ xả,
Giữa những người không tịnh,
Các người khác học hỏi,
Vị ấy sống không học.

***

Từ bỏ lậu hoặc cũ,
Không tạo lậu hoặc mới,
Không đi đến ước muốn,
Không cuồng tín chấp thủ,
Vị Hiền trí như vậy,
Thoát khỏi các tà tà kiến,
Không tham dính ở đời,
Không bị ngã chỉ trích.

***

Không có sự thù hằn
Đối với tất cả pháp,
Phàm có thấy nghe gì,
Cùng với tưởng và thọ,
Ẩn sĩ không hệ lụy,
Đã đặt gánh nặng xuống
Không liên hệ thời gian,
Không chấm dứt, không cầu,
Thế Tôn nói như vậy.

Kinh Nikaya
Mấy hôm trước, tâm trạng suy sụp tới thảm hại, rồi lại bị cốc cà phê kích thích, tôi thấy người bức bách như có thể tự tử được. Lúc ấy, một ý nghĩ hiện ra trong tôi: nếu như lúc này, tất cả các cảm xúc tôi đã trải qua, từ quá khứ đến bây giờ, đột ngột kéo đến và ập vào đầu tôi cùng một lúc, thì tôi sẽ thế nào? Hẳn tôi sẽ chẳng còn gì để nghĩ ngợi nữa, và cái đầu tôi chỉ còn một việc là nổ tung.

Những suy nghĩ dở hơi và lẩn thẩn thế này, tôi vẫn còn nhiều lắm. Đầu óc tôi, nó cứ hỗn mang như cái thiên đàng đương lập dở.

Con đường tu tập, tôi đã quyết định sẽ đi theo. Nhưng có lẽ tâm tín chưa đủ, nguyện thiết chưa thành nên cứ nhùng nhằng. Người xưa bảo: bậc thượng căn nghe đạo xong rồi liền rốt ráo làm theo, bậc trung căn nghe rồi lúc nhớ lúc quên, bậc hạ căn nghe xong thì cười ha hả. Tôi nay tự xếp mình vào hạng trung căn.

Và đó là điều nguy hiểm. Vì, như lời một bài sám:

Như cây nay nhổ mai trồng
Thì không ra được trái bông mà dùng.

***

32 tuổi. Và tôi đương bắt đầu tìm hiểu về cuộc đời, về những con người xung quanh, và về cả chính tôi. Nó cũng có cái hay. Vừa là người sống vừa là người quan sát. Nhiều khi tôi chưa kiềm chế được bản thân như mình mong muốn. Nhiều khi vẫn phải cố nói cho bằng được để hạ cơn hỏa, để thỏa cái lòng tấm tức.

Nhưng có lẽ, tôi cũng chẳng nên mong cầu một cuộc đại ngộ. Chỉ là, cần phải phát tâm tinh tấn hơn nữa.

Đôi lúc thì tôi thấy buồn. Khi lại chán nản. Lúc thì thấy bất lực và hoang mang. Có khi lại như đang ngóng đang trông một cái gì. Nhưng cũng có dăm bận thấy lòng thơ thới nhẹ tênh.

Tôi cứ xoay vần giữa những cảm xúc như vậy.

Và tôi nghĩ mình hỏng bét hết cả.

Để rồi xem.

Thứ Ba, 23 tháng 8, 2016

Càng đọc kinh, càng thấy cái nghiệp mình nó dày. Thân người dẫu được, nhưng vẫn bị vướng sâu vào vòng tục lụy; Phật pháp, trong thời buổi thông tin nhiễu loạn này, tuy có nhưng bị pha tạp rất nhiều, không tỉnh giác dễ sa vào tà kiến như chơi.

Dần dà, mình đã hiểu ra, cõi Trời không phải cõi lành. Cõi Trời tu phước rất khó. Vì ở đó, ai ai cũng được vui hưởng ngũ dục, chẳng ai phải tranh giành của ai, chẳng ai phải cầu cạnh ai cái gì, mọi người đều sống hòa đồng vui vẻ với nhau nên muốn tu tâm nhẫn nhục, tâm từ bi, tâm hỉ, tâm xả... đều rất khó.

Cõi người thì tha hồ tu tập. Đụng chuyện là phiền, nên tu full-time được. Chỉ chạnh lòng, Phật nói bố thí cho người trì giới thì phước đức lớn hơn bố thí cho người không trì giới. Nhưng xã hội giờ, sư sãi nhiều mà người tu hành chẳng có bao nhiêu - là do cái phán đoán chủ quan của mình nói thế. Khéo bây giờ, như lời Ma vương nói với Phật, sau khi Phật diệt độ, tới thời Mạt pháp, quân của Ma vương sẽ khoác áo cà sa, cạo trọc đầu, giả dạng tăng ni mà dụ dỗ chúng sinh. Gặp được người trì giới, quả thực khó quá. Cũng có thể do cái duyên của mình chưa tới chăng?

À, có một quan sát nho nhỏ. Hôm nay nhìn thấy một con rết. Bình thường ra, thấy rết hay gián là dù đang bận việc gì cũng xông vào truy sát cho bằng được, thậm chí bắt được rồi còn băm vằm ra như trả được thù tiền kiếp. Nhưng hôm nay thì hình như không còn ý nghĩ ấy nữa. Trước đây, niệm trước là nhìn thấy rết, niệm sau là tâm sân hại nổi lên. Bây giờ, cái niệm sân hại ấy tự dưng đi đâu. Là một chút dấu hiệu be bé cho thấy một sự thay đổi nào đó ư? Mà thôi, cũng không nên phân tích gì nhiều. Biết như vậy là được rồi.

Cái ngã của mình vẫn quá lớn. Thấy người khác đối xử không tốt với mình, vẫn còn hậm hực, vẫn chạnh lòng. Nhưng, ở một góc độ khác, những con người ấy, những hoàn cảnh ấy đến với mình là để giúp mình kiểm nghiệm công phu tu tập của mình tới đâu. Không có họ làm khung tham chiếu, sao mình có thể nhận ra được mình chứ?

Thứ Hai, 22 tháng 8, 2016

Chớ có giết hữu tình,
Chớ lấy của không cho, 
Chớ nói láo không thật, 
Chớ uống rượu say mê, 
Từ bỏ phi Phạm hạnh, 
Không hành trì dâm dục 
Không có ăn ban đêm, 
Không ăn lúc phi thời.

Chớ mang các vòng hoa,
Chớ dùng các nước thơm, 
Hãy nằm trên mặt đất, 
Trên thảm chiếu trải dài, 
Tám hạnh này được gọi 
Là hạnh ngày trai giới, 
Do đức Phật giảng dạy, 
Để chấm dứt khổ đau.

Từ nay ngày trai giới, 
Chia nửa tháng hai phần, 
Ngày mười bốn, mười mười lăm, 
Hay ngày tám mỗi tháng, 
Với tâm ý hoan hỷ, 
Thực hành thần thông pháp 
Gồm có đủ tám phần, 
Khéo đầy đủ vẹn toàn. 

Do vậy, vào buổi sáng, 
Thực hành ngày trai giới, 
Bậc có trí sáng suốt, 
Với tâm tư tín thành, 
Với tâm ý tùy hỷ, 
Cúng dường Tỷ-kheo Tăng, 
Với món ăn đồ uống, 
Hợp với khả năng mình. 

Hãy nuôi dưỡng mẹ cha, 
Hợp pháp và đúng pháp, 
Và cũng đúng với pháp, 
Hãy làm nghề buôn bán, 
Người gia chủ như vậy, 
Sở hành không phóng dật, 
Được sanh làm Thiên nhân, 
Tên là: "Tự chói sáng".

Kinh Nikaya

Chủ Nhật, 21 tháng 8, 2016

Tôi vừa đọc được 1 câu trên FB, và câu nói khiến tôi giật mình: We are all puppets. I'm just a puppet who can see the strings. Câu nói khiến tôi nghĩ đến hoàn cảnh của mình. Những sợi dây của mình. Ở đâu đó tôi vẫn chưa thoát ra khỏi cái bóng ma của quá khứ. Ở đâu đó tôi vẫn giữ đầy những sân hận. Những bất an, những dằn vặt.
Kinh Điềm lành lớn

Như vầy tôi nghe: Một thời Thế Tôn trú tại Sàvatthi, ở Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi một Thiên nhân, khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, vị Thiên nhân ấy với bài kệ bạch Thế Tôn: 

Thiên nhân:

258. Nhiều Thiên nhân và Người, 
Suy nghĩ đến điềm lành, 
Mong ước và đợi chờ, 
Một nếp sống an toàn, 
Xin Ngài hãy nói lên 
Về điềm lành tối thượng. 

Thế Tôn: 

259. Không thân cận kẻ ngu, 
Nhưng gần gũi bậc trí,
Đảnh lễ người đáng lễ 
Là điềm lành tối thượng. 

260. Ở trú xứ thích hợp, 
Công đức trước đã làm, 
Chân chánh hướng tụ tâm, 
Là điều lành tối thượng. 

261. Học nhiều, nghề nghiệp giỏi, 
Khéo huấn luyện học tập, 
Nói những lời khéo nói 
Là điềm lành tối thượng. 

262. Hiếu dưỡng mẹ và cha, 
Nuôi dưỡng vợ và con, 
Làm nghề không rắc rối 
Là điềm lành tối thượng.

263. Bố thí, hành đúng pháp, 
Săn sóc các bà con, 
Làm nghiệp không lỗi lầm 
Là điềm lành tối thượng. 

264. Chấm dứt, từ bỏ ác, 
Chế ngự đam mê rượu, 
Trong pháp, không phóng dật 
Là điềm lành tối thượng. 

265. Kính lễ và hạ mình, 
Biết đủ và biết ơn, 
Đúng thời, nghe Chánh pháp 
Là điềm lành tối thượng. 

266. Nhẫn nhục, lời hòa nhã, 
Yết kiến các Sa-môn, 
Đúng thời, đàm luận pháp, 
Là điềm lành tối thượng. 

267. Khắc khổ và Phạm hạnh, 
Thấy được lý Thánh đế, 
Giác ngộ quả Niết bàn 
Là điềm lành tối thượng.

268. Khi xúc chạm việc đời, 
Tâm không động, không sâu, 
Không uế nhiễm, an ổn 
Là điềm lành tối thượng. 

269. Làm sự việc như vậy, 
Không chỗ nào thất bại, 
Khắp nơi được an toàn, 
Là điềm lành tối thượng.

Kinh Nikaya
Do sống hộ trì căn 
Với các căn nhiếp phục, 
Vững trú trên Chánh pháp, 
Thích chân trực, hiền hòa, 
Vượt khỏi các tham ái, 
Đoạn tận mọi khổ đâu, 
Bậc trí không nhiễm dính, 
Điều được thấy, được nghe.

***

Uống xong vị viễn ly, 
Uống xong vị an tịnh, 
Không sợ hãi, không ác,
Hưởng vị ngọt, pháp hỷ.

Kinh Nikaya
Hãy tu tập từ tâm, 
Trong tất cả thế giới, 
Hãy tu tập tâm ý, 
Không hạn lượng rộng lớn. 
Phía trên và phía dưới, 
Cũng vậy, cả bề ngang, 
Không hạn chế, trói buộc,
Không hận, không thù địch.

Khi đứng, hay khi đi, 
Khi ngồi, hay khi nằm, 
Lâu cho đến khi nào, 
Khi đang còn tỉnh thức, 
Hãy an trú niệm này, 
Nếp sống này như vậy, 
Được đời đề cập đến, 
Là nếp sống tối thượng.

Ai từ bỏ tà kiến, 
Giữ giới, đủ chánh kiến, 
Nhiếp phục được tham ái, 
Đối với các dục vọng, 
Không còn phải tái sanh, 
Đi đến thai tạng nữa.

Kinh Nikaya

Thứ Bảy, 20 tháng 8, 2016

Khắp cả bốn phương trời,
Không sân hận với ai,
Tự mình biết vừa đủ,
Với vật này vật khác,
Vững chịu các hiểm nguy,
Không run sợ dao động,
Hãy sống riêng một mình
Như tê ngưu một sừng.

***

Thật chúng ta tán thán,
Các bằng hữu chu toàn,
Bậc hơn ta, bằng ta,
Nên sống gần thân cận.
Nếu không gặp bạn này
Những bậc không lầm lỗi,
Hãy sống riêng một mình
Như tê ngưu một sừng.

***

Lạnh lẽo và nóng bức, 
Đói bụng và khát nước, 
Gió thổi, ánh mặt trời. 
Muỗi lằn và rắn rết. 
Tất cả xúc chạm này,
Đều chịu đựng vượt qua, 
Hãy sống riêng một mình 
Như tê ngưu một sừng.

***

Ai ưa thích hội chúng, 
Sự kiện không xảy ra, 
Người ấy có thể chứng, 
Cảm thọ thời giải thoát.
Cân nhắc lời giảng dạy,
Đấng bà con mặt trời, 
Hãy sống riêng một mình 
Như tê ngưu một sừng.

***

Mọi du hí vui đùa, 
Và dục lạc ở đời, 
Không điểm trang bày biện, 
Không ước vọng mong cầu, 
Từ bỏ mọi hào nhoáng, 
Nói lên lời chân thật, 
Hãy sống riêng một mình 
Như tê ngưu một sừng.

***

Với mắt cúi nhìn xuống, 
Chân đi không lưu luyến, 
Các căn được hộ trì, 
Tâm ý khéo chế ngự. 
Không đầy ứ, rỉ chảy, 
Không cháy đỏ bừng lên, 
Hãy sống riêng một mình 
Như tê ngưu một sừng.

***

Hãy xoay lưng trở lại 
Đối với lạc và khổ, 
Cả đối với hỷ ưu, 
Được cảm thọ từ trước, 
Hãy chứng cho được xả, 
An chỉ và thanh tịnh; 
Hãy sống riêng một mình 
Như tê ngưu một sừng.

***

Tinh cần và tinh tấn, 
Đạt được lý chân đế, 
Tâm không còn thụ động, 
Không còn có biếng nhác, 
Kiên trì trong cố gắng, 
Dõng lực được sanh khởi, 
Hãy sống riêng một mình 
Như tê ngưu một sừng.

***

Không từ bỏ độc cư, 
Hạnh viễn ly thiền định, 
Thường thường sống hành trì, 
Tùy pháp trong các pháp.
Chơn chánh nhận thức rõ, 
Nguy hiểm trong sanh hữu, 
Hãy sống riêng một mình 
Như tê ngưu một sừng.

***

Mong cầu đoạn diệt ái, 
Sống hạnh không phóng dật, 
Không đần độn câm ngọng, 
Nghe nhiều, giữ chánh niệm. 
Các pháp được giác sát, 
Quyết định, chánh tinh cần. 
Hãy sống riêng một mình 
Như tê ngưu một sừng.

***

Giống như con sư tử, 
Với quai hàm hùng mạnh, 
Bậc chúa của loài thú, 
Sống chinh phục chế ngự. 
Hãy sống các trú xứ, 
Nhàn tịnh và xa vắng, 
Hãy sống riêng một mình 
Như tê ngưu một sừng.

***

Từ tâm, sống trú xả, 
Bi tâm, hạnh giải thoát,
Sống hành trì thực hiện, 
Hỷ tâm, cho đúng thời, 
Không chống đối và chậm, 
Với một ai ở đời. 
Hãy sống riêng một mình 
Như tê ngưu một sừng.

***

Đoạn tận lòng tham ái, 
Sân hận và si mê, 
Chặt đứt và cắt đoạn, 
Các kiết sử lớn nhỏ 
Không có gì sợ hãi, 
Khi mạng sống gần chung, 
Hãy sống riêng một mình 
Như tê ngưu một sừng.

***

Có những bạn vì lợi, 
Thân cận và chung sống, 
Những bạn không mưu lợi, 
Nay khó tìm ở đời. 
Người sáng suốt lợi mình, 
Không phải người trong sạch, 
Hãy sống riêng một mình 
Như tê ngưu một sừng.

Kinh Nikaya

Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2016

Trích Đoạn Khai Thị của Pháp sư Tịnh Không
144. Chúng ta nhất định phải làm từ chính bản thân mình, làm ra một cái gương tốt mới có thể giáo hóa chúng sanh. Cho nên chúng ta ngày nay ở trên toàn thế giới, ở bất cứ nơi nào hoằng dương Phật pháp, chúng ta có một tổng đề mục, có một tổng mục tiêu, một phương hướng chính là “học vi nhân sư, hành vi thế phạm”. Chúng ta rất rõ ràng rất tường tận cả thảy Phật pháp Đại Thừa đều không ngoài hai câu này. “Tác sư”, “Sư” là gương mẫu, tuyệt nhiên không phải nói người xuất gia gọi là pháp sư phải tác sư, đó là lý đương nhiên. Mỗi một vị đồng tu ở tại giai đều phải tác sư, tác phạm. Ở ngay trong cương vị công tác hiện tại của chúng ta, ngay trong đời sống hiện tiền của chúng ta phải làm ra tấm gương tốt cho đại chúng, đó chính là tác sư, tác phạm. Chư Phật, Bồ Tát là tấm gương tốt nhất cho tất cả chúng sanh trong chín pháp giới, là mô phạm tốt nhất, chúng ta phải hiểu được cái ý này. Ngày trước tôi đã nói qua với các vị đồng tu, đã từng có người hỏi qua tôi là cha mẹ hiện tại rất khó quản giáo con cái, con cái không nghe lời cha mẹ; học trò trong trường học không nghe lời thầy giáo, thầy giáo dạy học rất khổ; ở trong xã hội công nhân không nghe lời ông chủ, hiện tại ở trên toàn thế giới các khu vực phổ biến đều có thể xem thấy, đó là một vấn đề lớn nghiêm trọng trong xã hội.
Trên toàn thế giới có rất nhiều người lãnh đạo có trí tuệ thông minh, trong giới học thuật, nhà xí nghiệp trong giới công thương nghiệp, các lãnh đạo tôn giáo, đều đang tìm cầu phương pháp giải quyết vấn đề xã hội ngày nay. Rốt cuộc lỗi lầm là do đâu? Vào năm trước ở trường đại học sư phạm Bắc Kinh, tôi xem thấy trong trường học có đề tám chữ này đó là “học vi nhân sư, thân vi thế phạm”. Thế nhưng thời gian tôi ở trong trường không lâu, ngay trong lúc tiếp đón tôi đã nói qua mấy câu này. Cổ thánh tiên hiền Trung Quốc dạy bảo chúng ta “tác thân, tác quân, tác sư”, cho nên tôi xem thấy tám chữ này liền liên tưởng đến. Nhà Nho giáo huấn đối với chúng ta “tác vi quân, tác vi thân, tác vi sư”, chúng ta không thể xem câu này với nghĩa hẹp câu nói này đại khái là Khổng Tử kỳ vọng đối với người lãnh đạo quốc gia mà không liên quan gì với dân chúng thông thường chúng ta, vậy thì hiểu sai rồi. Giáo học của Nho và Phật là đối với tất cả chúng sanh không phân biệt giai cấp, không phân biệt nam nữ, không phân biệt già trẻ, không phân biệt nghề nghiệp, hy vọng mỗi một người đều biết được “tác quân, tác thân, tác sư”. “Quân” là gì vậy? Là người lãnh đạo rất tốt. Người lãnh đạo rất tốt cần cụ bị điều kiện gì? Nhân từ! Đối với những người cấp dưới của mình phải chân thành quan tâm họ, chân thành thương yêu họ, chân thành chỉ đạo họ thì bạn là người lãnh đạo tốt. Đồng thời bạn cũng phải là người thân, phải dùng cái tâm của cha mẹ để thương yêu cấp dưới của bạn, cho nên Trung Quốc thời xưa thủ trưởng chính phủ địa phương gọi là quan phụ mẫu. Ý nghĩa không như nhau, hiện tại làm quan thời đại dân chủ gọi là gì? Người đầy tớ của dân, là người hầu; làm quan là người hầu, lão bá tánh là chủ nhân. Quan hệ chủ-bộc, thì người hầu có lúc cũng gạt người chủ, không thấy được chân thật hiếu trung với bạn, quan tâm với bạn. Thế nhưng cha mẹ thương yêu với con cái thì không hề có điều kiện, cho nên chúng ta vẫn hy vọng người làm quan là cha mẹ của chúng ta, không nên là người hầu trong nhà chúng ta, người hầu thật không đáng tin, vẫn là cha mẹ đáng tin hơn nhiều so với người hầu. Cho nên phải là người thân làm cái tâm của cha mẹ, còn phải làm cái tâm của thầy giáo, thầy giáo thương yêu học trò. Không luận là cái thân phận của chúng ta ngày nay như thế nào, chúng ta là một công dân cấp thấp cũng phải làm được ba điều kiện này. Tuy là không có địa vị, chức vụ nhưng cũng phải có ba cái tâm này để làm sức ảnh hưởng, ảnh hưởng đồng liêu, đồng sự của chính chúng ta, ảnh hưởng bạn bè của chúng ta, ảnh hưởng người mà chúng ta quen biết, sau đó mở rộng có thể ảnh hưởng đến xã hội, người người đều có thể phát tâm “tác thân, tác sư, tác quân”, đây gọi là chân thật tùy hỷ công đức. Vậy lợi ích đối với người làm việc công đức lợi ích làm gì có chướng ngại, không những không có chướng ngại trái lại sẽ toàn tâm toàn lực tán thán giúp đỡ, không có sức mạnh tán trợ thì cũng sẽ tán thán. Việc này có thể ảnh hưởng đại chúng xã hội cùng nhau phát triển, mang đến cho xã hội lợi ích chân thật.
Việc thiện-ác ở thế gian thật quá nhiều vì sao Phật đặc biệt nêu ra tùy hỷ công đức? Thật tế mà nói ý nghĩa của điều này rất sâu. Phật biết được phiền não tập khí của tất cả chúng sanh là tích lũy từ vô lượng kiếp mà mỗi một chúng sanh đều có, tập khí gì vậy? Là tham sân si mạn, ngạo mạn đố kỵ, những tập khí này mang theo từ lúc mới sanh mà không cần người dạy. Bạn tỉ mỉ mà quan sát, bạn quan sát trẻ thơ mấy tháng tuổi chưa biết nói chuyện, tập trung hai đứa trẻ gần bằng tuổi nhau lại, một đứa trẻ có kẹo ăn còn một đứa kia không có kẹo ăn thì cái tâm đố kỵ của nó liền nổi lên, bạn xem ai dạy chúng vậy? Không có ai dạy chúng. Tùy hỷ công đức chính là đối trị tâm ngạo mạn, đặc biệt là đối trị tâm đố kỵ. Đố kỵ ngạo mạn là tạo tội nghiệp cực trọng, chỉ khoảng một niệm chuyển đổi liền biến thành vô lượng công đức, giữa khoảng một niệm chuyển đổi lại chính là công đức. Phật cùng phàm phu khác biệt ở ngay chỗ này, chúng sanh thì không thể chuyển được cứ tùy theo phiền não mà trôi lăn trong sanh-tử sáu cõi, còn chư Phật, Bồ Tát chỉ trong khoảng một niệm chuyển đổi lại thì thành tựu vô lượng vô biên công đức. Cho nên chúng ta phải học cách chuyển, chuyển được rất mau, sau khi chuyển lại rồi thì người ta tu tích công đức bao lớn, bạn tùy hỷ công đức thì cũng lớn như người ta vậy, quyết định không có khác biệt. Tuyệt đối không thể nói con người này tu tích công đức thì công đức của họ lớn, còn ta tùy hỷ công đức thì công đức nhỏ, không hề có chuyện như vậy, nhất định là lớn như nhau. Người ta tu tích thật là rất khổ sở, bạn vừa tùy hỷ công đức thì cũng lớn như họ vậy, bạn thấy bạn chiếm được bao nhiêu lợi ích? Nếu bạn hiểu được cái đạo lý này, Phật dạy cho chúng ta, chúng ta có thể đem công đức của A Di Đà Phật chuyển biến thành công đức của chính mình. Cách chuyển như thế nào vậy? Y theo một bộ kinh này mà tu học thì được rồi. Ở trên kinh này Phật dạy cho chúng ta “thọ trì, đọc tụng, vì người diễn nói”, bạn chỉ cần đem ba câu nói này làm cho được thì bạn liền chuyển công đức từ trong vô lượng kiếp của A Di Đà Phật biến thành công đức của chính mình. Ngay trong lúc giảng dạy chúng ta cũng thường nói “đồng tâm, đồng nguyện, đồng đức, đồng hạnh” với A Di Đà Phật thì liền đem công đức của A Di Đà Phật chuyển biến thành công đức của chính mình, vậy mới là người thông minh bậc nhất trên thế giới. Nếu chúng ta tu hành mà không nhờ vào công đức của A Di Đà Phật mà chỉ dựa vào công đức của chính mình thì bạn phải tu đến kiếp nào? Chúng ta ở trong mấy mươi năm ngắn ngủi của đời này chỉ cần bạn hiểu được đạo lý này, hiểu được phương pháp này mà áp dụng vào trong việc tu hành của chúng ta thì ta sẽ có được công đức của A Di Đà Phật đã tu hành vô lượng kiếp. Trong kinh Hoa nghiêm nói “niệm kiếp viên dung” chúng ta chân thật có thể làm đến được. Cho nên các vị không nên xem thường bỏ lỡ cái cơ hội này, nhất định phải nắm lấy cái cơ hội này, ngay trong một đời thành tựu công đức cứu cánh viên mãn. Bạn xem cư sĩ Lý Mộc Nguyên xây dựng cái đạo tràng này, mời pháp sư đến giảng giải đã tốn biết bao hơi sức, đó là công đức của ông ấy. Hôm nay chúng ta đến nơi đây tùy hỷ thì công đức viên mãn của ông ấy chúng ta thảy đều có được. Chúng ta giới thiệu mấy người bạn bè thân thích đến nơi đây nghe kinh, bạn cũng chính là lợi dụng cái đạo tràng này, lợi dụng cái cơ duyên này của cư sĩ Lý Mộc Nguyên bạn độ được mấy người làm Phật, bạn nói xem công đức của bạn lớn hay không? Thật là độ họ đi làm Phật. Họ ngay trong đời này có thể y giáo tu hành có thể được vãng sanh hay không đó là một việc riêng. Việc đó không hề gì, chỉ cần đến cái đạo tràng này thấy được Phật tượng, nghe được một - hai câu kinh văn, một khi đã nghe qua tai thì mãi mãi đã trồng thiện căn hạt giống kim cang vĩnh viễn không hư hoại; sẽ có một ngày gặp được duyên khởi hiện hành, tương lai họ niệm Phật vãng sanh làm Phật, nghĩ lại cái nhân ban đầu là do một người nào đó độ ta. Đó gọi là hiểu được làm thế nào để tu tùy hỷ công đức.
(Trích Đoạn Khai Thị của Pháp sư Tịnh Không)
Trích Đoạn Khai Thị của Pháp sư Tịnh Không
143. Hôm nay chúng ta tiếp tục giới thiệu với các vị nguyện thứ năm “tùy hỷ công đức”, cái điều này vô cùng quan trọng. Trước tiên chúng ta phải nhận biết công đức là gì? Chỗ này không thể hàm hồ được. Chúng ta xem thấy rất nhiều đạo tràng phía trước để một cái thùng bên trên viết là “thùng công đức”, cho rằng cái gì? Tiền để vào trong đó thì có công đức. Vậy thì sai rồi, không hề có công đức! Đừng nói bạn quyên góp một ít tiền thì cho rằng đã có công đức? Thật ra không có công đức! Vào thời xưa, thời đại của Lương Võ Đế (Lương Võ Đế là người trong lịch sử Trung Quốc chúng ta nổi tiếng là một Phật giáo đồ kiền thành, là đại hộ pháp của nhà Phật chúng ta), khi ông còn đương chức đã xây cất 480 ngôi đạo tràng (ngày nay chúng ta gọi là Tự Viện), quy mô đều rất lớn khích lệ nhân dân xuất gia. Ông xem thấy người xuất gia thì rất hoan hỷ, khích lệ mọi người xuất gia, cho nên độ chúng mấy trăm ngàn người. Chính ông cũng cảm thấy kêu ngạo “ô! việc này thật đáng tự hào”, làm được công đức lớn như vậy, cảm thấy kêu ngạo. Chính vào ngay lúc này Bồ Đề Đạt Ma đi đến Trung Quốc, chính là Tổ Sư của Thiền Tông (Bồ Đề Đạt Ma). Sau khi đến Trung Quốc nghe được quốc vương của Trung Quốc nhiệt tâm hộ pháp như vậy, đương nhiên phải đến bái kiến. Lương Võ Đế cũng rất vui mừng yết kiến một vị Cao Tăng đến từ Ấn Độ, sau khi gặp mặt thì Lương Võ Đế liền nói với Đạt Ma Tổ Sư về công đức hộ pháp, thành tích hộ pháp của ông. Sau khi nói xong thì ông thỉnh giáo với Đạt Ma Tổ Sư, ông nói “công đức của tôi có lớn không?”. Đạt Ma Tổ Sư, con người này rất thẳng thắn không nói nhân tình với người, ông nói ra một lời thành thật “không có công đức gì!”. Nói ra câu nói này khiến cho Lương Võ Đế không chịu nổi, Lương Võ Đế nghe rồi rất là không vui, cho nên Lương Võ Đế không hộ pháp cho ông, làm cho ông phải đi đến chùa Thiếu Lâm quay mặt vào vách 9 năm để đợi Ngài Huệ Khả. Lời của Đạt Ma Tổ Sư có đúng hay không? Đúng! Công đức cùng phước đức không như nhau, giả như Lương Võ Đế hỏi ông “phước đức tôi có lớn không?”. Thì Đạt Ma Tổ Sư nhất định sẽ nói “Thật lớn! Thật lớn! Ông tu phước báo thật quá lớn”. 
Phước đức cùng công đức là có khác biệt, công đức là phải chính mình tu hành. Chúng ta nêu ra một thí dụ đơn giản: Trì giới có công, cái công mà bạn trì giới là có công phu, bạn trì giới có công phu được định chính là đức. Cho nên công là tu nhân, đức là chứng quả, bạn được định rồi vậy mới gọi là công đức. Nếu như giới luật bạn giữ được rất tốt rất nghiêm thế nhưng không thể được định, bạn chưa được định thì việc trì giới của bạn là phước đức vẫn không phải công đức. Bạn trì giới chưa có công phu, bạn chỉ có được phước báo, bạn giữ giới mà được định thì giới luật này mới gọi là có công phu. Vì sao có một số người trì giới có thể được định, có một số người trì giới không thể được định? Ở trong đây chính là đúng pháp và không đúng pháp. Tu học đúng pháp thì mới có công, tu học không đúng pháp thì không có công, cái điểm này các bạn đồng tu không luận là tại gia hay xuất gia đều phải tường tận. Như vậy nhất định phải giữ giới luật, giữ giới mới tương ưng, không giữ giới thì không tương ưng. Vậy làm sao được gọi là công phu chứ? Lục Tổ Đại Sư Huệ Năng dạy người, đặc biệt dạy người trì giới một mực dặn bảo chúng ta “nếu là người chân chánh tu hành, thì không thấy lỗi thế gian”, thì bạn có công phu. Giới luật của ta trì được rất tốt, xem thấy người khác không trì giới thì sanh tâm khinh mạn xem thường người ta, chính mình cống cao ngã mạn, bạn xem trì giới như thế thì được kết quả gì? Được cái cống cao ngã mạn. Người ta trì giới thì được định, từ định khai huệ, còn họ trì giới thì được cái cống cao ngã mạn, vậy thì thành ra thứ gì, thì làm gì có được công phu chứ? Thế nhưng sự trì giới đó có tốt hay không? Là việc tốt! Sự trì giới đó là phước đức, họ đã tu phước hữu lậu trong tam giới sáu đường. Tôi xin nói với các vị là tôi không có nói phước báo nhân-thiên, mà tôi nói là phước báo hữu lậu trong sáu đường, vì sao vậy? Không thấy được phước báo của họ hưởng được ở nhân gian. Việc này chúng ta phải hiểu, nếu như họ không có được cái thân người mà họ được cái thân súc sanh, được cái thân ngạ quỷ đều là hưởng phước. Bạn thấy trong đường súc sanh, người nước ngoài nuôi vật cưng, phước báo của nó thật lớn chúng ta làm sao có thể bì với nó chứ. Người cả nhà đều hầu hạ nó xem nó như là bảo bối vậy, nó là chủ của cả nhà. Chúng ta còn kém xa so với nó, chúng ta một người quan tâm cũng không có. Loài vật cưng đó (súc sanh) là do đời trước đã tu phước. Phước báo trong cõi quỷ cũng không nhỏ, chúng ta đã xem thấy rất nhiều nơi ở trong nhân gian Trung Quốc chúng ta cúng bái những quỷ thần này. Bên cạnh cư sĩ Lâm dường như có một cái miếu thờ Đại Bá Công, đó chính là trong cõi quỷ có phước báo. Sơn thần, thổ địa, thần hoàng đều là cõi ngạ quỷ, họ đã tu phước nên ở trong cõi ngạ quỷ hưởng phước. Cho nên Phật nói với chúng ta nhất định phải tu tích công đức, trong công đức tự nhiên có phước đức, trong phước đức không có công đức, vẫn là công đức tốt. 
Công đức phải tu bằng cách nào? Kinh này của chúng ta hay, kinh này đích thật là đệ nhất kinh mà Thế Tôn 49 năm đã nói; Hoa nghiêm vẫn là hàng kế, còn kinh này chân thật là kinh đệ nhất, trên đề kinh đã nói với chúng ta “Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác”. Hay nói cách khác, tu học của chúng ta phải tương ưng với “Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác” chính là công đức. Chúng ta trì giới, ngay trong giới được tâm thanh tịnh, được tâm bình đẳng thì giới của bạn liền có công. Tâm thanh tịnh chính là định, tu định có công, khai trí tuệ chính là đức, tu định nếu không thể khai trí tuệ thì cái định đó cũng là phước báo. Thế nhưng các vị phải nên biết phước của định cùng phước của giới không như nhau, phước của định lớn hơn phước của giới rất nhiều. Phước của giới có ở trong tam thiện đạo và tam ác đạo, trong tam thiện đạo thì chỉ được hưởng từ cõi trời Đao Lợi, trời Tứ Thiên Vương, cõi A-tu-la và cõi người; còn trong tam ác đạo thì chỉ có địa ngục là không có hưởng phước, còn đường ngạ quỷ, đường súc sanh đều có hưởng phước, đó là phước của giới. Phước của định không ở ác đạo, ít nhất phải ở cõi trời Dạ Ma trở lên. Bạn tu định trong định không thể khai trí tuệ thì chỉ có phước báo, phước báo từ cõi trời Dạ Ma mãi đến cõi trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ đó đều là phước báo của định. Tu định được phước báo không phải công đức, tu định muốn được công đức thì phải khai trí tuệ, nếu khai trí tuệ thì quyết định siêu việt tam giới vĩnh thoát luân hồi, đó là tu định có công. Cho nên “công đức” chúng ta nhất định phải hiểu được rõ tường tận thông suốt thấu đáo. 
Chúng ta xem thấy người ta tu tích công đức, thông thường người thế gian khởi lên ý niệm gì? Là đố kỵ! Xem thấy người khác tốt hơn mình trong lòng liền khó chịu, liền bực bội, nghĩ ra hết cách để chướng ngại, thậm chí còn nghĩ ra cách để phá hoại, phá hoại người tu hành, cái tội lỗi này rất lớn. Còn có một loại Bồ Tát tu tích công đức, Bồ Tát thị hiện ở ngay trong quần chúng xã hội nam nữ, già trẻ, việc họ làm hiện tại chúng ta gọi là việc từ thiện xã hội. Thế nhưng Bồ Tát đã làm việc từ thiện xã hội cùng người thế gian chúng ta làm việc từ thiện xã hội trong đó lại phải có một chút khác biệt, khác biệt ở đâu vậy? Các vị phải tỉ mỉ mà quan sát thì bạn mới có thể thấu hiểu. Bồ Tát tu tích làm việc từ thiện xã hội sau cùng giúp cho họ phá mê khai ngộ, đó chính là đã làm công đức. Nếu như chỉ là làm việc từ thiện xã hội mà không dạy họ phá mê khai ngộ, đó là thuộc về phước đức. Tại vì sao đối với chúng sanh trước phải dùng từ thiện cứu tế để giúp đỡ người? Đó là tứ nhiếp pháp của Phật, phương tiện nhiếp thọ chúng sanh. Ở trên kinh Phật cũng tường tận dạy cho chúng ta “tiên dĩ lợi dục câu, hậu linh nhập Phật trí”. Bạn thấy Phật từ bi đến tột đỉnh. Người thế gian nếu bạn bảo họ đến học Phật thì họ lắc đầu không đến, bạn mời họ đến ăn cơm thì họ rất vui mừng lập tức liền đến. Ăn cơm xong mới bảo họ học Phật vậy thì tương đối dễ dàng, vì sao vậy? Đã nhận ân huệ rồi nếu không nghe thì rất khó coi, luôn là không thể ăn xong rồi thì đi. Cho nên nhà Phật dùng loại từ thiện này “bố thí, ái ngữ, đồng sự, lợi hành” đều là nhiếp thọ chúng sanh. Sau đó nói rõ cho họ chân tướng của vũ trụ nhân sanh, nói rõ chân tướng của chính chúng ta cùng hoàn cảnh sinh hoạt của chính mình, sau khi hiểu rõ chân tướng thì họ quay đầu là bờ. Cách làm này nếu như chấp tướng mà làm thì người làm vẫn là tu phước, nếu như là rời tướng không chấp tướng “tam luân thể không” thì người làm công việc này đó là công đức. Đó là lấy lợi ích chúng sanh làm công đức, do nhân giới được định, đó là công đức tu học của chính mình.
Hai loại công đức này đều sẽ bị người đố kỵ, đều sẽ bị người làm chướng ngại. Cho nên ngay khi chúng ta tu tích phải có trí tuệ cao độ, phải có phương tiện khéo léo, địa vị của chúng ta càng thấp càng tốt. Khi đối đãi với bất cứ người nào cho dù là người phê bình chúng ta, người phỉ báng chúng ta, người làm chướng ngại chúng ta, người phá hoại chúng ta, thì chúng ta cũng phải dùng tâm chân thành cung kính đối đãi với họ, làm cho họ dần dần có thể bị cảm động, có thể giác ngộ, có thể quay đầu đem những ác duyên này đều chuyển biến thành thiện duyên, đem những việc ác này đều chuyển biến thành công đức chân thật, đó gọi là tùy hỷ.
(Trích Đoạn Khai Thị của Pháp sư Tịnh Không)
1. Điều quan trọng nhất là giữ cho tâm thanh tịnh, trong đời sống thường ngày phải biết giữ gìn tâm thanh tịnh, đây là đời sống có sức khỏe nhất. Bạo ăn bạo uống thì chắc chắn tổn hại sức khỏe. Chúng ta nhất định phải biết, ăn uống được là phải nhờ vào tiêu hóa, tiêu hóa chính là công năng của mỗi cơ quan trong nội tạng của chúng ta, nó đang vận chuyển làm việc trong đó. Nếu như ăn quá nhiều thì sức làm việc của nó nhiều, nó gánh vác rất nặng. Cho nên cơ quan này vốn dĩ có thể dùng được một, hai trăm năm, còn bạn mới năm, sáu mươi năm nó đã già yếu rồi, nó không thể sử dụng được nữa. Khi cơ quan không thể phát sinh tác dụng được nữa, thì đây chính là đại bệnh nghiêm trọng vậy, sao có thể không chết sớm cho được chứ! Cho nên nếu chúng ta quí trọng mỗi cơ quan trong cơ thể, thì nhất định phải biết không được để những cơ quan này làm việc vượt quá sức của nó. Làm việc vượt quá sức của nó là tạo sức ép cho nó, là có lỗi với nó. Chúng ta yêu quí nó, tốt nhất là để nó làm việc trong phạm vi sức của mình, thì nó làm việc rất thoải mái, nó làm việc rất thông suốt, vậy nó không khỏe sao được chứ? Chúng ta hãy suy nghĩ nhiều về những đạo lý này, liền biết ăn uống đơn giản là có lợi ích rất lớn đối với đạo trường sinh, đều có ảnh hưởng rất lớn đối với tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm từ bi. Sinh lý và tâm lý là hai mặt của một thể, là không thể tách rời.
2. Niệm một câu A Di Đà Phật này nhằm đắc tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh có thật sự đạt được hay chưa? Tâm thanh tịnh là nhất niệm bất sanh (một niệm không sanh), đó là tâm thanh tịnh. Trong tâm vẫn còn khởi tâm động niệm, tâm ấy chẳng thanh tịnh. Nếu trong tâm còn có vọng niệm tơi bời, đời này chúng ta niệm Phật sẽ không thể thành tựu, chỉ có thể nói là kết thiện duyên với Tây Phương Cực Lạc thế giới mà thôi! Đời này có thể vãng sanh hay không? Chẳng thể vãng sanh. Quý vị muốn vãng sanh thì tâm nhất định phải thanh tịnh. Tâm không thanh tịnh, làm sao có thể vãng sanh?
Do vậy, chúng ta phải dùng một câu A Di Đà Phật để niệm cho hết tập khí (thói quen) vọng tưởng từ vô thỉ kiếp đến nay, niệm cho dứt những tập khí vọng tưởng ấy. Nhưng tập khí vọng tưởng luôn dấy lên hiện hành, đây là chuyện phiền phức, nhất định phải đề cao cảnh giác.
3. Tâm địa đã thật sự thanh tịnh rồi, người ấy vừa nghe pháp, vừa tiếp xúc Phật pháp, sẽ khai ngộ, pháp hỷ sung mãn. Quý vị tiếp xúc Phật pháp mà chẳng khai ngộ là do tâm chẳng thanh tịnh. Tâm thanh tịnh chẳng thể không khai ngộ. Do vậy, quý vị ngàn vạn phần đừng nên bứt rứt vì chuyện cũ, đừng nên nghĩ tới những tội nghiệp trước kia. Vì quý vị càng nghĩ đến, tâm quý vị chắc chắn chẳng thanh tịnh. Chúng ta niệm Phật nhằm mong cầu công phu thành phiến, nhất tâm bất loạn; suốt ngày suy nghĩ loạn xạ, làm sao thành phiến cho được? Công phu chẳng thể thành phiến, cũng chẳng đạt được nhất tâm.
4. Thế gian này bạn hưởng thụ vinh hoa phú quý, nói cho bạn biết, trên thực tế đó là giả chứ không phải thật. Vì sao vậy? Bạn có thể giữ vinh hoa phú quý được bao nhiêu lâu? Chúng ta hãy bình lặng mà quan sát, đọc lịch sử xem người xưa, bạn lại xem cuộc sống hiện tại những người đại phú đại quý, họ có thể giữ được bao nhiêu lâu? Có rất nhiều người khi trung niên thì phát đạt, khi già thì suy bại. Có người cũng không tệ lắm, có thể hưởng thụ được cả đời nhưng đến đời sau thì không còn nữa. Rất nhiều rất nhiều. Cho nên cổ đức xưa thường hay nói: “Phú quý không giữ được quá ba đời”. Đây là ngày trước, hiện tại trong một đời mình còn không giữ được, chúng tôi đã nhìn thấy rất nhiều, rất nhiều rồi. Đặc biệt là người làm quan lớn, đến những năm cuối đời thì cuộc sống rất đáng thương. Khi còn tại vị đương quyền (đây là ngày trước tôi đã thấy qua), có đến mười mấy người giúp việc trong nhà, hô một tiếng thì có bao nhiêu người dạ; đến khi về già, khi suy bại rồi, tự mình phải xách giỏ đi chợ mua rau. Tôi nghĩ, ngày trước ông ấy có nằm mơ cũng không thể nghĩ đến là ông sẽ ra nông nổi như ngày hôm nay. Rất nhiều người như vậy. Nguyên nhân là gì vậy? Trong đời quá khứ việc tu tích phước báo có hạn, khi bản thân hưởng phước mà lại không biết tu phước, hưởng phước và tạo ác nghiệp, đã làm tổn giảm phước báo, cho nên đã nhanh chóng hết phước. Lúc cuối đời, trong Phật pháp chúng ta gọi là hoa báo (quả báo hiện tại), cuối đời không tốt thì bạn liền biết được họ đời sau sẽ không tốt (hậu báo). Từ chỗ này bạn có thể nhìn thấy được đời sau của họ.
Người học Phật chúng ta thì không giống như vậy. Người học Phật biết được nhân quả ba đời (quá khứ, hiện tại và vị lai), chúng ta ở trong đời này nỗ lực tu tâm thanh tịnh, tu tâm thiện. Cho nên trong hai năm gần đây, tôi đặc biệt đề xuất “thuần tịnh thuần thiện”. Nhiều năm qua, chúng tôi đề xuất là chân thành - thanh tịnh - bình đẳng - chánh giác - từ bi. Hiện tại thì chúng ta lại nâng lên thêm một bậc, phải đem chân thành - thanh tịnh - bình đẳng - chánh giác - từ bi nâng lên thành “thuần tịnh, thuần thiện”, chúng ta nắm chắc phần vãng sanh thế giới Tây Phương Cực Lạc. Trên Kinh thì nói đó là quê nhà của chúng ta, nói đó là nhà của chính mình, là tình hình sinh sống ở ngôi nhà của mình. Vì thế, hiện tại chúng ta không cần phải tranh giành với người ở nơi này. Tranh giành với người ở đây thì chúng ta không thể về ngôi nhà này được. Tranh với họ để làm gì? Chúng ta được đại tự tại. Những ngày tháng này trải qua thật thoải mái, thật là tự tại.
5. Phương pháp tu hành trong Tịnh Độ cũng rất nhiều, Trì Danh (chuyên niệm A Di Đà Phật) là bậc nhất, đơn giản nhất, dễ dàng nhất, thẳng chóng nhất, ổn thỏa nhất. Nói thật ra, pháp này tương ứng với Thiền, mà cũng tương ứng với Mật. Niệm một câu A Di Đà Phật là Thiền, Tịnh, Mật Tam Tu. Quý vị đang tam tu mà chẳng biết! Vừa mở đầu, kinh Vô Lượng Thọ đã biểu thị pháp, ba ý nghĩa này hết sức rõ rệt, cho nên chẳng cần tu pháp nào khác! Quý vị nói: “Cách tu như thế nào?” Một câu A Di Đà Phật niệm đến cùng là được rồi, tới lúc đó, sẽ tự nhiên hiểu rõ, tự nhiên tâm khai ý giải, niệm tới mức cái tâm thanh tịnh, niệm tới nhất tâm bất loạn. Nhất tâm bất loạn là “minh tâm kiến tánh” trong Thiền Tông, là “tam mật tương ứng” trong Mật Tông, nhưng phương pháp [trì danh] này dễ hơn Thiền, mà cũng dễ hơn Mật, thành tựu hoàn toàn giống như Thiền và Mật. Vì thế, nó thật sự là một pháp môn chẳng thể nghĩ bàn.
6. Định là chuyên nhất, chúng ta quyết định chọn lấy pháp môn niệm phật, cả đời này quyết định chẳng thay đổi, tu một môn này đến cùng, đấy là Định. Chẳng xen tạp, chẳng gián đoạn là biểu hiện của Định. Quý vị tạp tu, sẽ chẳng có Định. Trong cuộc sống, trong một đời, chúng ta có thuận cảnh và nghịch cảnh. Cảnh giới thuận hay nghịch hiện tiền, chúng ta đều phải tiếp nhận. Khi chúng ta tiếp nhận, đừng nẩy sanh mừng, giận, buồn, vui, đó là trí huệ. Trong thuận cảnh, đừng dấy tâm hoan hỷ, trong nghịch cảnh chớ nên sanh phiền não, vì sao? Dấy lên mừng, giận, buồn, vui nơi cảnh giới, Phật hiệu (A Di Đà Phật) sẽ niệm chẳng thành, vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới cũng chẳng thành. Mục đích của chúng ta là Tây Phương Cực Lạc thế giới. Thuận cảnh nơi này dẫu tốt đẹp, ta chẳng tham ái, chúng chẳng giữ được chúng ta, chúng ta vẫn đến Cực Lạc. Trong nghịch cảnh, chúng ta chẳng dấy phiền não, chẳng khởi sân hận, chúng ta biết hoàn cảnh dẫu xấu đến mấy, cũng bất quá là ngắn ngủi mấy năm hay mấy chục năm sẽ qua đi, hoàn cảnh sau đấy sẽ rất tốt đẹp! Ngàn vạn phần chớ nên bị nghịch cảnh ngắn ngủi tạo thành chướng ngại, như vậy mới là có trí huệ.
7. Hướng đến quả báo Vô Thượng Bồ Đề, đó là nói “mục tiêu của chúng ta là thành Phật”. Chúng ta không mong thành Tạng Giáo Phật, cũng chẳng muốn thành Thông Giáo Phật, cũng không mong thành Biệt Giáo Phật, chúng ta muốn đạt đến rốt ráo viên mãn Phật, tức Viên Giáo Phật (Phật của Nhất Chân Pháp Giới). Nếu muốn thành tựu Viên Giáo Phật, quyết định phải cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, quyết định đạt được trong một đời, chẳng cần đợi đến đời thứ hai. Vì vậy, pháp môn niệm phật là pháp môn thành Phật ngay trong đời này, chẳng phải là pháp môn tầm thường.
8. Kinh nói giả thiết, đức Phật nói nếu còn có một pháp môn còn thù thắng hơn cực quả của Như Lai, chúng ta nghe xong sẽ như thế nào? Chúng ta nghe xong vẫn chẳng cần! Chuyên đến mức độ này! Hiện thời, phàm phu chúng ta sai sót ở chỗ này! Người ta bảo quý vị: “Còn có pháp hay hơn pháp Niệm Phật, thành tựu còn nhanh chóng hơn niệm Phật”. Tâm bị động ngay lập tức, chẳng cần A Di Đà Phật nữa, theo kẻ đó học pháp môn khác! Gió thổi, cỏ rạp, tín tâm dao động như vậy; kẻ tu học kiểu đó, bất luận tu học pháp môn nào cũng đều chẳng thể thành tựu. Do vậy, quyết định chẳng lay động. Đức Phật đến khuyên quý vị, Thích Ca Mâu Ni Phật đến trước mặt quý vị khuyên bảo: “Ta còn có một pháp môn hay hơn pháp môn niệm A Di Đà Phật”, chúng ta nghe xong bèn như thế nào? “Cám ơn Thích Ca Mâu Ni Phật, con nay niệm A Di Đà Phật đến cùng, chẳng mong đổi sang pháp môn khác”. Phải có tín tâm như vậy thì mới có thể thành công.
9. Tổ Ấn Quang là Cực Lạc Đại Thế Chí Bồ Tát hóa thân, lời lão nhân gia nói chính là lời Đại Thế Chí Bồ Tát nói. Đại Thế Chí Bồ Tát là Tịnh Tông Sơ Tổ (Sơ Tổ Pháp Môn Niệm Phật). Chúng ta đọc Đại Thế Chí Bồ Tát Viên Thông Chương của kinh Lăng Nghiêm, [sẽ thấy] Ngài thật sự chuyên, chuyên tới cùng cực. Từ sơ phát tâm mãi cho đến khi thành Phật, Ngài dùng phương pháp gì? Chính là một câu A Di Đà Phật, chuyên đến mức cùng cực. Chỉ là một câu A Di Đà Phật, từ sơ phát tâm cho đến khi thành Vô Thượng Đạo. Sau khi đã thành Vô Thượng Đạo, đến mười phương thế giới giáo hóa chúng sanh, Ngài vẫn dùng pháp môn niệm phật để tự hành, hóa độ người khác, vĩnh viễn không thay đổi! Từ hết thảy các kinh, chúng ta đã thấy: Lão nhân gia xác thực đúng là bậc nhất. Chuyện này đáng để chúng ta học tập theo, đáng cho chúng ta bắt chước. Chúng ta gặp gỡ bậc thiện tri thức như vậy mà nếu vẫn chẳng tin tưởng, đúng là Nhất Xiển Đề như kinh đã nói. Nhất Xiển Đề là chẳng có thiện căn. Gặp gỡ bậc đại thiện tri thức như vậy mà vẫn chẳng thể tin nhận, phụng hành!
10. Mọi người công nhận Văn Thù Bồ Tát trí huệ bậc nhất, Ngài là vị trí huệ bậc nhất trong các vị Bồ Tát; Văn Thù Bồ Tát chọn lựa pháp môn trì danh niệm Phật vãng sanh Tịnh Độ (Cực Lạc), chọn lựa bằng trí huệ! Ngày nay chúng ta cũng chọn lựa pháp môn niệm phật, chẳng khác gì Văn Thù Bồ Tát, Ngài chọn pháp này, ta cũng chọn pháp này! Ngoài chuyện chọn lựa này ra, ta thấy chúng ta chẳng có gì sánh bằng Văn Thù Bồ Tát! Những thứ khác chẳng sánh bằng không sao cả! Chỉ cần điều này chẳng sai khác cho mấy là được rồi, chắc chắn là khá lắm rồi! Do vậy, ta có thể biết: Chẳng chọn lựa pháp môn niệm phật tức là chẳng có trí huệ!
11. Ví như quý vị tốt số, đầu thai vào gia đình phú quý, cha quý vị đại phú, đại quý. Khi quý vị đi học, chính mình chẳng kiếm ra tiền, nhưng hoàn cảnh sống tốt đẹp nhất, ra khỏi cửa đi xe tốt nhất. Những thứ đó là của bố quý vị, chẳng phải là của quý vị, có ý nghĩa như thế đó. Chúng ta tới cõi ấy (cõi Cực Lạc), tất cả hết thảy sự hưởng thụ đều là hưởng thụ từ A Di Đà Phật, có ý nghĩa như thế ấy! Đợi đến khi chính mình đã đoạn Kiến Tư phiền não, đoạn Trần Sa Hoặc, đoạn Vô Minh, vô minh còn phải đoạn hơn ba mươi phẩm, [lần lượt chứng đắc các địa vị] Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng. Khi đã đạt đến Thất Địa, tức là đã đoạn ba mươi bảy phẩm vô minh, khi ấy, [sự hưởng thụ] là của chính quý vị. Khi quý vị chưa đạt đến mức độ ấy, [hết thảy thọ dụng trong Tây Phương Cực Lạc thế giới] là do Phật lực gia trì. Cũng giống như khi chính bản thân quý vị đã có năng lực, làm việc trong xã hội, cũng có thể kiếm tiền, hết thảy những gì quý vị thọ dụng là của chính mình, chẳng phải dựa dẫm vào cha nữa! Khi quý vị chẳng có năng lực ấy, hoàn toàn dựa dẫm cha, bèn có lợi ích như thế đó. Trong các thế giới chư Phật khác, chẳng có sự tốt đẹp này. Do vậy, [nếu ở trong các thế giới khác], quý vị đang trong giai đoạn tu học sẽ rất khổ sở, chẳng thể hưởng thụ tốt đẹp dường ấy! Vì vậy, sự thù thắng của thế giới Cực Lạc chẳng có bất cứ thế giới Phật nào có thể sánh bằng! Chúng ta ắt phải hiểu điều này thì tín tâm của chúng ta mới thanh tịnh, mới kiên định, niệm phật và nguyện lực mới thật sự khẩn thiết. Chẳng thể không đến cõi ấy!
(Pháp Sư Tịnh Không)
Ba Điều Cho Thấy Gia Đình Suy Vi & Bốn Điều Giúp Cho Gia Đình Hưng Vượng
------------
Trong dân gian có câu: “Giàu không quá ba đời”. Rất nhiều gia tộc giàu có đều không “thoát” khỏi sự linh ứng của nó. Nhưng cũng có những gia đình không hề bị ảnh hưởng, thậm chí càng ngày càng hưng thịnh. Vậy sự khác biệt nằm ở chỗ nào?
Tăng Quốc Phiên, tiến sĩ triều Đạo Quang, giữ chức vụ Thị lang các bộ Binh, Lễ, Lại, Hình, đồng thời là một nhà Nho lỗi lạc đã nói rằng, một gia đình có hưng thịnh hay không chỉ cần nhìn vào ba điểm dưới đây là biết rõ:
Thứ nhất: Nhìn xem con cháu ngủ đến mấy giờ? Nếu như ngủ đến lúc mặt trời lên cao mới bắt đầu dậy thì gia đình này đang từ từ lười biếng mà đi xuống.
Thứ hai: Nhìn xem con cháu trong nhà có chăm chỉ làm việc hay không? Bởi vì thói quen làm việc sẽ ảnh hưởng đến cả đời của một người.
Thứ ba: Nhìn xem con cháu có thường đọc sách kinh điển của các bậc cao nhân thánh hiền hay không? Bởi vì người không học sẽ không hiểu nghĩa và không biết đạo lý.
Nhìn lại lịch sử có thể thấy, rất nhiều gia đình giàu có đều bị “linh nghiệm” bởi câu “giàu không quá ba đời” hay “thành đạt không quá ba đời”. Nhưng gia đình họ Tăng lại đời này tiếp nối đời sau mà sinh ra các bậc anh tài, những nhân vật kiệt xuất của lịch sử Trung Hoa.
Bí quyết của gia tộc họ Tăng “trường thịnh không suy” này là ở 4 câu di chúc do Tăng Quốc Phiên để lại.
1. Thận trọng thì trong tâm sẽ yên bình
Đạo lý tu dưỡng bản thân là phải hướng vào trong nội tâm. Trong nội tâm đã biết rõ thiện ác lại không thể tận lực hành thiện trừ ác thì chưa phải là thật tâm tu dưỡng. Chỉ chính mình mới biết rõ có đang tự lừa dối bản thân hay không, người ngoài nhìn khó thấy.
Mạnh Tử nói: “Trên không thẹn với trời, dưới không thẹn với lương tâm”. Cái gọi là dưỡng tâm, nhất định phải là “tâm thanh quả dục” (để tâm thanh tịnh, giảm bớt ham muốn dục vọng). Cho nên, người có thể tự thận trọng xét lại bản thân mình sẽ không bị cảm thấy áy náy.
Người nếu như không có việc gì phải áy náy thì khi đối mặt với quỷ thần, trời đất, thì thần sắc sẽ an nhiên, bình thản. Đây là phương thuốc tốt nhất, là việc lớn nhất của tu thân dưỡng tính, là đạo lý cần cố gắng đạt được trong đời người.
2. Cung kính thì thân thể sẽ khỏe mạnh
Trong nội tâm mà thuần khiết, bên ngoài chỉnh tề nghiêm túc, đây là công phu của “kính” (kính trọng, tôn kính, cung kính). Bước ra khỏi cửa giống như nhìn thấy khách quý, luôn kính trọng với người khác, đây là khí tượng của “kính”.
Bản thân tu dưỡng khiến dân chúng bình an, trung thực kính cẩn mà khiến thiên hạ được thái bình, đây là hiệu quả của “kính”. Thông minh và trí tuệ đều là từ “kính” mà ra.
Nếu như việc lớn hay việc nhỏ, người nhiều hay người ít, đều dùng lòng cung kính (cả bên trong và bên ngoài) để đối đãi, không dám buông thả thì thân thể sẽ khỏe mạnh.
3. Nhân từ sẽ được tự tại
Khổng Tử giáo dục con người đều là dùng chữ “nhân” (nhân từ, nhân ái) làm trọng. Ông nói: “Dục lập lập nhân, dục đạt đạt nhân”, (ý nói đến phương pháp hành nhân: Đem mong muốn sự nghiệp thành đạt của mình làm cho người khác giống y như cho mình vậy. Lấy những điều mà trong lòng mình mong ước để hiểu lòng mong ước của người khác).
Người có thể hành nhân sẽ không có tâm tranh giành, như thế trong tâm luôn thấy tự tại, vui vẻ, không bị vướng bận điều gì.
4. Lao động sẽ được quỷ thần tôn trọng
Người xưa quan niệm rằng, người mà ngày đêm không làm việc gì, an nhàn rảnh rỗi, trong khi có khả năng lao động mà lại sống dựa vào người khác là người bất hạnh, quỷ thần cũng không đồng ý. Người như vậy sao có thể sống được lâu dài?
Bậc thánh hiền xưa luôn là người cần cù, tận lực với dự định của bản thân, đọc sách và luyện tập, gia tăng trí huệ và mở mang kiến thức. Người thành công trong xã hội cũng luôn là người nỗ lực làm việc.
Di chúc của Tăng Quốc Phiên có ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu xa đến đời con cháu của ông. Sau khi Tăng Quốc Phiên mất, con trai của ông là Tăng Kỷ Trạch ra làm quan, làm ngoại giao.
Tăng Kỷ Hồng cả đời nghiên cứu toán học. Sau khi cháu trai Tăng Quảng Quân của ông đỗ tiến sĩ đã làm việc ở viện hàn lâm. Những đời sau của gia đình họ Tăng đều nghiên cứu học tập cao không tham gia binh nghiệp, thậm chí ít người ra làm quan.
Tăng gia luôn ghi nhớ những lời di ngôn của Tăng Quốc Phiên, không tranh giành địa vị, giữ tâm trong sạch và duy trì được: “Tăng gia trường thịnh không suy, đời đời có nhân tài”.
------------
Nguồn: Tinh Hoa, senvangtv.com
1. Trong khi chúng ta gặp tai nạn, có cần phải niệm Quán Thế Âm Bồ Tát hay không? Bị bệnh, có cần phải niệm Dược Sư Phật hay chăng? [Nếu gặp tai nạn bèn niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, bị bệnh niệm Dược Sư Phật] thì dường như mỗi vị Phật hay Bồ Tát cai quản một chuyện [nhất định]! Từ chỗ này, chúng ta hiểu: Bình thường chúng ta tu pháp môn niệm phật, niệm A Di Đà Phật, A Di Đà Phật là Bổn Tôn của chúng ta, gặp tai nạn cũng vậy, mà bị bệnh tật cũng thế, thảy đều niệm A Di Đà Phật, chắc chắn hữu hiệu! Hiệu quả do đâu mà có? Trong các buổi giảng, chúng tôi thường nói: “Chí thành cảm thông”. Người bình thường cầu Phật, cầu Bồ Tát chẳng hiệu quả, vì tâm họ chẳng chân thành. Vì sao biết tâm họ chẳng chân thành? Họ cầu cả đống Phật, Bồ Tát, tâm họ sẽ chẳng chân thành. Nếu tâm chân thành, chỉ cầu một vị Phật hay Bồ Tát mà quý vị thường chuyên niệm, đến lúc ấy, nhất định có linh nghiệm. Chúng ta niệm đoạn này, phải hiểu rõ đạo lý này. Tục ngữ có câu: “Thành tắc linh” (thành kính ắt linh thiêng), chẳng thành kính sẽ không linh; niệm chú đều chẳng ra ngoài lệ này! Niệm chú bằng lòng Thành đều linh, huống hồ chúng ta niệm danh hiệu Phật, Bồ Tát?
2. Khi quý vị sắp mất, phải tỉnh táo, sáng suốt, như vậy thì mới nắm chắc vãng sanh. Nếu lâm chung đau khổ, hoặc hôn mê, bất tỉnh, như vậy thì chẳng có cách nào cả, thậm chí trợ niệm cũng chẳng có cách nào! Do vậy, con người trong một đời phải nên tu phước, chớ nên hưởng phước, chớ nên hưởng sạch một chút phước báo ấy, hưởng hết thì khi lâm chung sẽ chẳng có phước!
Trong quá khứ, tôi đã thấy không ít kẻ phú quý, tuổi trẻ đắc chí, trung niên đắc chí, tha hồ hưởng thụ, gọi một tiếng, trăm kẻ thưa, đến tuổi xế bóng suy sụp, ngay cả một kẻ hầu hạ, chăm sóc cũng chẳng có! Giặt áo, nấu cơm đều phải tự mình làm lấy, đáng thương vô cùng! Khi người ấy đắc chí, trong nhà kẻ hầu mười mấy, hai mươi người, vẫn sợ hầu hạ chẳng trọn vẹn; lúc tuổi xế chiều, chuyện gì tự mình cũng đều phải làm, ra phố mua thức ăn cũng tự mình xách giỏ lê bước. Tôi đã thấy rất nhiều, hưởng hết phước rồi! Tình hình lúc người ấy chết [như thế nào] có thể suy ra được, lẽ nào có thể tỉnh táo, sáng suốt được? Chẳng thể nào!
Do vậy, nhất định phải biết tu phước, mong sao khi lâm chung tỉnh táo, sáng suốt, chúng ta niệm Phật chắc chắn có thể vãng sanh. Đới nghiệp vãng sanh phải cậy vào sát-na lâm chung ấy! Như Trương Thiện Hòa tỉnh táo dường ấy là do thiện căn tu hành trong nhiều đời nhiều kiếp, khi đó, [thiện căn ấy] bèn hiện tiền. Suốt đời chẳng nghe Phật pháp, lâm chung được nghe, chịu tin tưởng, chịu chuyên tâm niệm; do vậy, lúc lâm chung mười niệm hay một niệm cũng có thể vãng sanh, đấy là Hạ Phẩm Hạ Sanh trong Quán Kinh. Ngàn vạn phần phải ghi nhớ, quyết chẳng thể mang tâm lý cầu may. Đọc câu chuyện này, [bèn lầm tưởng] chẳng có gì phải gấp rút! Cả đời này tạo ác thêm một chút, chẳng sao cả! Lâm chung vẫn còn kịp. Nếu quý vị suy tưởng như vậy, lầm lẫn quá đỗi! Khi quý vị lâm chung, có thể bảo đảm tỉnh táo, sáng suốt như ông Trương Thiện Hòa hay chăng? Có bảo đảm khi ấy sẽ có thiện tri thức tới giúp đỡ quý vị hay không? Do vậy, chớ nên mang tâm lý cầu may! Phải sốt sắng niệm Phật. Nhất là trong thời đại hiện đại này, tai nạn bất ngờ rất nhiều, bản thân chúng ta có đảm bảo cả đời chẳng gặp phải hay chăng? Tai nạn đột nhiên xảy đến, làm thế nào đây? Do vậy, bình thường phải nghiêm túc nỗ lực niệm Phật, niệm Phật có thể tiêu tai miễn nạn. Dẫu đại kiếp nạn xảy đến, cũng có thể tỉnh táo, sáng suốt niệm Phật vãng sanh, đấy là công đức lợi ích chẳng thể nghĩ bàn.
(Pháp Sư Tịnh Không)
"Để trau dồi tâm từ ái chân chính, trước hết quý vị phải thực hành thiền định về tâm bình đẳng bằng quán tâm xả, gỡ bỏ mình ra khỏi những người gần gũi, thân thiết. Sau đó quý vị phải xả bỏ những cảm xúc tiêu cực đối với người mình thù hận. Mọi chúng hữu tình đều được nhìn nhận trên cơ sở bình đẳng. Trên nền tảng như vậy, quý vị có thể từng bước phát triển tâm từ bi chân thật đến tất cả mọi người." Đức Dalai Lama.

Tung hoa!!!

 Không biết đã bao lâu rồi không viết blog. FB thấy không vào thì cũng ko sao.  Nói chung là yên ổn với công việc của mình. Thực ra là ko yê...