Do đó, hàng phục ma chướng, điều quan trọng nhất là khắc phục phiền não, tập khí của mình. Điều cần phải chú ý là, chúng ta học Phật, tương lai sẽ thành Phật, thành Bồ-tát, chứ không phải thành yêu ma quỷ quái ! Điều này mọi người phải thời thời khắc chắc ghi nhớ, phải để vào trong tâm, luôn luôn cảnh tỉnh để tự mình chân chính giác ngộ ; người học Phật ngàn vạn lần ghi nhớ là để thành Phật, không phải để thành ma ! Tại sao tôi phải nhấn mạnh điểm này ? Quý vị hãy bình tĩnh quan sát cái xã hội này đi, biết bao nhiêu người bạn đồng tu học Phật không hay không biết mình đang rơi vào đường ma. Những người ấy cũng có thiện tâm, cũng là người tốt, đáng tiếc là không hiểu được giáo nghĩa của Phật-đà, không có khả năng phân biết chánh tà, đúng sai, lại thêm không có được nhân duyên thù thắng, không gặp được chánh pháp ; hoặc có gặp được chánh pháp nhưng không có thiện tri thức, hiểu sai lệch nghĩa kinh điển, phiền não tập khí vẫn còn y nguyên như cũ, cho nên học Phật như vậy thì học đến trọn đời vẫn bị lạc vào đường ma. Đây là một việc vô cùng đáng tiếc, cho nên chúng ta không thể không lưu tâm, để ý, không thể không thận trọng. Muốn tu hành nhất định phải bắt đầu hạ thủ công phu từ chỗ đoạn trừ phiền não tập khí, tức là phải khắc phục những thói quan không tốt của mình, phải bồi dưỡng cái tâm thanh tịnh, bình đẳng, từ bi. Nếu lấy sự tu học này làm phương hướng, mục tiêu thì không dễ gì bị đoạ lạc vào đường ma.
Chúng ta tu học không thể thành tựu, và trong cuộc sống hằng ngày chúng ta không có được những lợi ích chân thật, nguyên nhân chủ là do ‘tình chấp’ của chúng ta quá nặng. ‘Tình’ là vọng tưởng, ‘chấp’ là chấp trước. Cho nên, nguồn gốc của mọi khổ đau vẫn là vọng tưởng, chấp trước. Trong kinh điển Đại thừa dạy chúng ta làm sao để hoá giải được ‘tình chấp’ ? Phương pháp hữu hiệu nhất là ‘phát tâm bồ-đề’. Chỉ có cách chân chính phát tâm bồ-đề thì mới hoá giải được ‘tình chấp’. Người ‘tình chấp’ nặng thì khởi tâm động niệm đều nghĩ đến lợi ích của bản thân mình, phàm những gì có lợi cho bản thân mình thì nghĩ hết cách, tận hết sức để chiếm đoạt, đối với những gì không có lợi ích cho bản thân mình thì nghĩ cách trốn tránh. Như vậy, vọng tưởng, tình chấp trong cuộc sống hằng ngày, không những chướng ngại sự tu học của bản thân mình mà còn chướng ngại phát triển trí tuệ của mình, làm cho mình không thể lãnh ngộ được ý nghĩa chân thật của Phật pháp. Đây chính là ‘nghiệp chướng’.
Người phát tâm bồ-đề rộng lớn thì khởi tâm động niệm đều nghĩ ‘chúng sanh vô biên thệ nguyện độ’ ; nghĩ phải làm sao để giúp đỡ chúng sanh khai ngộ, giúp chúng sanh tu hành, giúp chúng sanh chứng quả. Giữ được cái tâm này thường xuyên thì ‘tình chấp’ tự nhiên giảm dần. Chúng ta có tâm từ bi rộng lớn muốn cứu độ chúng sanh thì phiền não vô tận cũng tự nhiên tiêu mất. Từ đó chúng ta sẽ có khả năng lãnh hội được ý nghĩa trong kinh đã dạy : ‘hoàn cảnh thay đổi theo tâm’. Trước đây cái tâm của mình là cái tâm tự tư tự lợi, bây giờ mình đem nó biến đổi, biến thành một cái tâm hoàn toàn vì lợi ích cho chúng sanh.
Nếu cái tâm tự tư tự lợi còn tồn tại thì trong cuộc sống hằng ngày chắc chắn chúng ta sẽ còn đối đầu với nhiều oan gia trái chủ. Hơn nữa, trong vô lượng kiếp quá khứ chúng ta cũng đã gây thù chuốc oán với vô lượng vô biên chúng sanh, cho nên trong cuộc sống hiện tại, mỗi cử chỉ hành động đều gặp chướng duyên trắc trở với người này việc kia, những chướng duyên ấy chính là quả báo. Có quả đương nhiên phải có nhân. Bây giờ, chúng ta thay đổi tâm niệm, mỗi niệm mỗi niệm thay vì nghĩ đến lợi ích của bản thân, thì mình nghĩ đến lợi ích của chúng sanh, tức là mình thay đổi cái nguyên nhân từ gốc rễ. Thay đổi cái tâm niệm được rồi thì bao nhiêu oan gia trái chủ từ vô lượng kiếp đến nay đều hoá giải hết, từ đó mình có được công đức của tâm bồ-đề không thể nghĩ bàn. Nếu như mình có khả năng kiên trì tu tập, giữ gìn chánh niệm, lâu ngày thuần thục thì sẽ đạt đến cảnh giới mà người xưa thường nói : ‘sanh xứ chuyển thục, thục xứ chuyển sanh’ (chuyển chỗ sống thành chính, chuyển chỗ chín thành sống – ý nói chuyển những chủng tử, những hạt giống tốt trong tâm chưa chính thành hiện hành).
Trước đây, khi chưa phát tâm bồ-đề, những phiền não, tập khí, tình chấp trong tâm chúng ta là chỗ chín, khi đó, chúng ta chưa cần tác ý, chỉ mới khởi tâm động niệm thì tình chấp lập tức xuất hiện. ‘Bồ-đề tâm’ tức là tâm của chúng sanh, cái tâm này rất bạc nhược, thường xuyên thay đổi. Công phu tu tập của Bồ-tát không có gì khác biệt, chính là đem cái tâm chúng sanh này chuyển biến cho thành thục, cho chín muồi ; đem cái tâm tự kỷ từ vô lượng kiếp đến nay chuyển thành cái tâm ban sơ (chưa có tình chấp). Nếu có thể dùng phương pháp này để quán tưởng thì đó chính là sự giác ngộ chân chính, sự tu hành chân chính. Sự tu tập này tự nhiên làm cho tình thức tiêu trừ và đạt đến cảnh giới như trong Kinh Kim cương đã nói, là ‘phá bốn tướng, phá bốn kiến’. Bốn tường là phân biệt, chấp trước. Bốn kiến là mê tình, vọng tưởng.
Trong Kinh Hoa nghiêm có nói : ‘Tất cả mọi chúng sanh đều có đầy đủ đức tướng, trí tuệ của Như Lai, chỉ vì vọng tưởng, chấp trước nên không thể chứng đắc’. Vọng tưởng tức là ‘bốn kiến’, chấp trước tức là ‘bốn tướng’. Chúng ta có thể phát đại tâm, tu đại hạnh, thì bốn tướng, bốn kiến tự nhiên tiêu trừ lúc nào không hay biết, và tự nhiên khế nhập được cảnh giới của chư Phật, Bồ-tát, tức là thể nhập ‘nhất chân pháp giới’. Nếu lấy công hạnh này để niệm Phật cầu sanh Tịnh độ thì đương nhiên được vãng sanh lên bậc thượng phẩm thượng sanh, sự thành tựu thật không thể nghĩ bàn. Sự thành tựu này giúp chúng ta, ngay trước khi vãng sanh, ngay trong cuộc sống hiện tại này, hưởng được một cuộc sống hạnh phúc mỹ mãn, với một thái độ thong dong, nhìn sâu, buông xả, tự tại, tuỳ duyên, hạnh phúc, đồng thời khiến cho nhiều người nhìn thấy đều ngưỡng mộ, cung kính, giác ngộ và phát tâm tâm tu học theo chúng ta. Sự phát đại tâm, tu đại hạnh như vậy thì đồng với chư Phật và Bồ-tát thị hiện ở cõi đời này để tự mình tu tập và giáo hoá người khác tu tập, không có gì khác biệt.
- HT Tịnh Không
Chúng ta tu học không thể thành tựu, và trong cuộc sống hằng ngày chúng ta không có được những lợi ích chân thật, nguyên nhân chủ là do ‘tình chấp’ của chúng ta quá nặng. ‘Tình’ là vọng tưởng, ‘chấp’ là chấp trước. Cho nên, nguồn gốc của mọi khổ đau vẫn là vọng tưởng, chấp trước. Trong kinh điển Đại thừa dạy chúng ta làm sao để hoá giải được ‘tình chấp’ ? Phương pháp hữu hiệu nhất là ‘phát tâm bồ-đề’. Chỉ có cách chân chính phát tâm bồ-đề thì mới hoá giải được ‘tình chấp’. Người ‘tình chấp’ nặng thì khởi tâm động niệm đều nghĩ đến lợi ích của bản thân mình, phàm những gì có lợi cho bản thân mình thì nghĩ hết cách, tận hết sức để chiếm đoạt, đối với những gì không có lợi ích cho bản thân mình thì nghĩ cách trốn tránh. Như vậy, vọng tưởng, tình chấp trong cuộc sống hằng ngày, không những chướng ngại sự tu học của bản thân mình mà còn chướng ngại phát triển trí tuệ của mình, làm cho mình không thể lãnh ngộ được ý nghĩa chân thật của Phật pháp. Đây chính là ‘nghiệp chướng’.
Người phát tâm bồ-đề rộng lớn thì khởi tâm động niệm đều nghĩ ‘chúng sanh vô biên thệ nguyện độ’ ; nghĩ phải làm sao để giúp đỡ chúng sanh khai ngộ, giúp chúng sanh tu hành, giúp chúng sanh chứng quả. Giữ được cái tâm này thường xuyên thì ‘tình chấp’ tự nhiên giảm dần. Chúng ta có tâm từ bi rộng lớn muốn cứu độ chúng sanh thì phiền não vô tận cũng tự nhiên tiêu mất. Từ đó chúng ta sẽ có khả năng lãnh hội được ý nghĩa trong kinh đã dạy : ‘hoàn cảnh thay đổi theo tâm’. Trước đây cái tâm của mình là cái tâm tự tư tự lợi, bây giờ mình đem nó biến đổi, biến thành một cái tâm hoàn toàn vì lợi ích cho chúng sanh.
Nếu cái tâm tự tư tự lợi còn tồn tại thì trong cuộc sống hằng ngày chắc chắn chúng ta sẽ còn đối đầu với nhiều oan gia trái chủ. Hơn nữa, trong vô lượng kiếp quá khứ chúng ta cũng đã gây thù chuốc oán với vô lượng vô biên chúng sanh, cho nên trong cuộc sống hiện tại, mỗi cử chỉ hành động đều gặp chướng duyên trắc trở với người này việc kia, những chướng duyên ấy chính là quả báo. Có quả đương nhiên phải có nhân. Bây giờ, chúng ta thay đổi tâm niệm, mỗi niệm mỗi niệm thay vì nghĩ đến lợi ích của bản thân, thì mình nghĩ đến lợi ích của chúng sanh, tức là mình thay đổi cái nguyên nhân từ gốc rễ. Thay đổi cái tâm niệm được rồi thì bao nhiêu oan gia trái chủ từ vô lượng kiếp đến nay đều hoá giải hết, từ đó mình có được công đức của tâm bồ-đề không thể nghĩ bàn. Nếu như mình có khả năng kiên trì tu tập, giữ gìn chánh niệm, lâu ngày thuần thục thì sẽ đạt đến cảnh giới mà người xưa thường nói : ‘sanh xứ chuyển thục, thục xứ chuyển sanh’ (chuyển chỗ sống thành chính, chuyển chỗ chín thành sống – ý nói chuyển những chủng tử, những hạt giống tốt trong tâm chưa chính thành hiện hành).
Trước đây, khi chưa phát tâm bồ-đề, những phiền não, tập khí, tình chấp trong tâm chúng ta là chỗ chín, khi đó, chúng ta chưa cần tác ý, chỉ mới khởi tâm động niệm thì tình chấp lập tức xuất hiện. ‘Bồ-đề tâm’ tức là tâm của chúng sanh, cái tâm này rất bạc nhược, thường xuyên thay đổi. Công phu tu tập của Bồ-tát không có gì khác biệt, chính là đem cái tâm chúng sanh này chuyển biến cho thành thục, cho chín muồi ; đem cái tâm tự kỷ từ vô lượng kiếp đến nay chuyển thành cái tâm ban sơ (chưa có tình chấp). Nếu có thể dùng phương pháp này để quán tưởng thì đó chính là sự giác ngộ chân chính, sự tu hành chân chính. Sự tu tập này tự nhiên làm cho tình thức tiêu trừ và đạt đến cảnh giới như trong Kinh Kim cương đã nói, là ‘phá bốn tướng, phá bốn kiến’. Bốn tường là phân biệt, chấp trước. Bốn kiến là mê tình, vọng tưởng.
Trong Kinh Hoa nghiêm có nói : ‘Tất cả mọi chúng sanh đều có đầy đủ đức tướng, trí tuệ của Như Lai, chỉ vì vọng tưởng, chấp trước nên không thể chứng đắc’. Vọng tưởng tức là ‘bốn kiến’, chấp trước tức là ‘bốn tướng’. Chúng ta có thể phát đại tâm, tu đại hạnh, thì bốn tướng, bốn kiến tự nhiên tiêu trừ lúc nào không hay biết, và tự nhiên khế nhập được cảnh giới của chư Phật, Bồ-tát, tức là thể nhập ‘nhất chân pháp giới’. Nếu lấy công hạnh này để niệm Phật cầu sanh Tịnh độ thì đương nhiên được vãng sanh lên bậc thượng phẩm thượng sanh, sự thành tựu thật không thể nghĩ bàn. Sự thành tựu này giúp chúng ta, ngay trước khi vãng sanh, ngay trong cuộc sống hiện tại này, hưởng được một cuộc sống hạnh phúc mỹ mãn, với một thái độ thong dong, nhìn sâu, buông xả, tự tại, tuỳ duyên, hạnh phúc, đồng thời khiến cho nhiều người nhìn thấy đều ngưỡng mộ, cung kính, giác ngộ và phát tâm tâm tu học theo chúng ta. Sự phát đại tâm, tu đại hạnh như vậy thì đồng với chư Phật và Bồ-tát thị hiện ở cõi đời này để tự mình tu tập và giáo hoá người khác tu tập, không có gì khác biệt.
- HT Tịnh Không
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét