Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2026



CÓ SẴN CÁCH GỌI "CHỈNH CHU", SAO LẠI BIẾN THÀNH ... "CHỈN CHU"?
* Di chứng của đầu óc "nệ HÁN" tới mức trục xuất cách dùng sáng tạo của người Việt (khi mượn chữ Hán), dùng KHÁC với Hán tộc!
Vì người Hán gọi /zhěng jié/ "chỉnh khiết", người Hán không dùng "chỉnh chu" => Kéo theo những kẻ nệ Hán, bám Hán tới mức sẵn sàng loại bỏ "chỉnh chu" trong tiếng Việt!
Nói nào ngay, bấy lâu nay tôi không để ý cho lắm, cho tới khi đọc thấy trên nhiều website cho rằng trong tiếng Việt không có định nghĩa về “CHỈNH CHU”, nhằm biện hộ cho cách viết là … “chỉn chu”. Tôi giật mình, lẽ nào tiếng Việt bị nhập nhèm đến mức vậy rồi sao!
/I/ “NỬA NẠC NỬA MỠ”
“Chỉn”? Nhiều, rất nhiều người ắt nghe thấy lạ tai. Mời quí bạn đọc hai câu thơ thứ 2021, 2022 trong Truyện Kiều:
“Chỉn e quê quán một mình” 㐱 𠲖 圭 貫 𠬠 命 (có bản ghi “Chỉn e đất khách một mình”). Tay không chưa dễ tìm vành ấm no” 𢬣 空 渚 易 尋 𨪪 蔭 𩛂
Cần chú ý Truyện Kiều là thơ Nôm, ghi lại Nam âm, ở đây “chỉn” là tiếng thuần Việt, được xem là tiếng Việt cổ xưa (KHÔNG phải âm Hán-Việt); “e” cũng là tiếng thuần Việt (KHÔNG phải âm HV).
“Chỉn” viết bằng chữ Nôm 㐱, trong Tự điển Viện Hán & Nôm và trong Đại Nam quấc âm tự vị đều ghi: “chỉn” mang nghĩa “vốn là / quả là / còn là / thực đúng vậy, đúng là”. Còn “e” viết bằng chữ Nôm 𠲖, mang nghĩa “e ấp / e dè / e sợ”.
Chẳng hạn, “chỉn thiệt” nghĩa là “vốn thiệt / vốn là thiệt”; “chỉn e” nghĩa là “còn e dè / còn e sợ”. Thúy Kiều nơi đất khách một mình, ắt còn e ngại, còn e dè.
1a) Vậy … “chỉn chu” nghĩa mần răng?
Sẽ phải được diễn giải: “quả đúng là (“chỉn”) chu”, “vốn là chu”, “thực đúng là chu”.
Đến đây, cần tìm hiểu tiếp: “chu” nghĩa là gì.
Trong tiếng Việt, “chu” có nhiều nghĩa, nhưng chỉ nghĩa sau đây mới rơi trúng vào trường hợp này: “chu” trong “chu đáo” (đây là âm HV của 周到).
Việc nói rút gọn tiếng Hán-Việt (chẳng hạn, “chu đáo” rút còn “chu”) chỉ dùng khi ghép tiếng Hán-Việt theo sau một tiếng cũng Hán-Việt khác (sẽ diễn giải ở /II/).
Chớ KHÔNG nói rút gọn, khi theo sau một tiếng thuần Việt (như “chỉn”). Ở đây, không thể nói rút gọn tiếng Hán-Việt, không thể nói “quả là (nghĩa của “chỉn”) chu”, mà phải nói “quả là chu đáo”.
1b) Hơn nữa, xin chú ý, tiếng Việt cổ thường được gắn với tiếng Việt (Nam âm) theo sau!
Như “nác”, tiếng Việt cổ (nghĩa là “nước”), người dân vùng Quảng Bình, Quảng Trị…vẫn gọi “nác”, như “uống nác giếng”, “gánh nác sông”…
Họ gọi “nác giếng”, đây là hai tiếng thuần Việt, chớ KHÔNG nói “nác tỉnh” (“tỉnh” là âm HÁN-Việt của 井, nghĩa là ‘giếng’);
gọi “nác sông” cũng là hai tiếng thuần Việt chớ KHÔNG nói “nác hà” (“hà” là âm HÁN-Việt của 河, nghĩa là “sông”).
Nếu nói “nác tỉnh”, “nác hà”, nghe dị òm vì “nửa nạc nửa mỡ’, ngớ ngẩn quá sức!
Vậy đó, theo sau tiếng Việt cổ như “chỉn” sẽ phải là tiếng Việt như “e” (“chỉn e”); nếu lắp ghép với âm HÁN-Việt theo sau “chỉn”, có khác nào “nửa nạc nửa mỡ’?
/II/ DÙNG CHỮ HÁN THEO CÁCH RIÊNG CỦA NGƯỜI VIỆT, KHÁC VỚI HÁN TỘC:
2a) Người Việt, khi dùng chữ Hán, vẫn hay có cách ghép tiếng Hán-Việt với nhau, rồi rút gọn. Như “tham gia” 參加 + “tư vấn” 諮問, rồi rút gọn thành “tham vấn”. Hoặc như “bàn bạc” 磐礡+ “thảo luận” 討論, rút gọn thành “bàn thảo”.
Trong Tự điển Viện Hán Nôm, chúng ta đọc thấy: “CHỈNH”, trong “chỉnh tề” (整齊), “CHU”, trong “chu đáo” (周 到).
Ghép “chỉnh tề” (整齊) +”chu đáo” (周 到), rút gọn thành “CHỈNH CHU”.
Nghĩa của “CHỈNH CHU” (âm Hán-Việt), như vậy, trong cách hiểu của người Việt là gọn gàng, ngăn nắp, đâu ra đó.
2b) Trong khi đó, cũng mang lấy nghĩa “gọn gàng, ngăn nắp, đâu ra đó”, người Tàu (Hán tộc) gọi là gì? Họ gọi là / zhěng jié /, 整 潔 (“chỉnh khiết”).
Chữ Hán là văn tự chánh thức của Hán tộc (và áp dụng cho toàn cõi TQ), thành thử người Hán họ chỉ ghi - trong Hán tự - cách nói của họ 整 潔 (“chỉnh khiết”) chớ họ KHÔNG ghi 整 周 (“chỉnh chu”).
Tôi ngờ rằng, có những người “nệ HÁN” tới mức chỉ biết chăm bẳm, răm rắp dựa theo cách dùng chữ của Hán tộc và, vì không thấy người Hán dùng 整周 (“chỉnh chu”) nên họ cho rằng … trong tiếng Việt không có gọi “chỉnh chu” (!?).
2c) Hãy cùng nhau nhớ rằng: người Việt CHỌN LỰA chữ Hán theo cách-của-người-Việt!
Xin nhắc lại đôi chút. Tỉ như, chúng ta viết “đại lộ Lê Lợi”, Hán tộc viết: 黎利大道, là “Lê Lợi đại đạo”. Người Hán gọi /dà dào/ (“đại đạo”), KHÁC với cách dùng chữ của người Việt chúng ta.
Nữa, “airport” chuyển ngữ qua tiếng Hán là / jī chǎng/ 機場 (“cơ trường”). Còn “phi trường” là cách dùng chữ của người Việt, khác với người Hán!
Cũng chỉ vì không giống với cách dùng chữ của người Hán, nên gặp phải đầu óc "nệ Hán", bám Hán ... việc dùng chữ "phi trường" theo cách của người Việt bị dẹp bỏ!
THAY LỜI KẾT
Hễ còn mang đầu óc “nệ HÁN”, bám Hán (chỉ biết răm rắp dựa theo cách dùng chữ của Hán tộc) thì khó lòng mà nhận ra sự chọn lựa và cách dùng chữ của người Việt!

Nguyễn Chương-Mt

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tung hoa!!!

 Không biết đã bao lâu rồi không viết blog. FB thấy không vào thì cũng ko sao.  Nói chung là yên ổn với công việc của mình. Thực ra là ko yê...