Tri thiên mệnh thời nay
Hai năm trước, gặp một anh bạn trong hội nghị, tôi thấy anh ấy có vẻ ‘hiền lành’ hơn, ít nêu những câu hỏi khó cho các đồng nghiệp trẻ. Anh ấy cũng ít phán xét hơn. Tôi hỏi đùa rằng sao lúc này anh 'hiền' vậy, anh ấy cười nói “I have been melt down lately”. Chữ ‘melt down’ ở đây hiểu theo nghĩa mềm dịu xuống, nhìn đời một cách thanh thản hơn và bao dung hơn, hay nói theo Khổng Tử là ‘tri thiên mệnh.’ Các quan chức ngày nay rất thiếu cái tri thiên mệnh nên họ hành xử rất bậy.
Khổng Tử (hay Khổng Khâu) [1] có một cuộc đời và sự nghiệp rất gian truân. Theo sách sử, ông sanh năm 551 trước Tây lịch trong một gia đình quan chức cấp thấp ở nước Lỗ (thời Xuân Thu Chiến Quốc). Năm 19 tuổi ông thành hôn và được bổ nhiệm làm quan phụ trách thuế vụ và cúng tế ở nước Lỗ. Năm 22 tuổi ông lập trường dạy học. Vẫn theo sử sách, ông làm khá là 'good job' nên năm 30 tuổi ông được gởi đi 'du học' ở kinh đô nhà Chu để nghiên cứu thêm về cúng tế. Tuy làm 'good job' cúng tế và thu thuế, nhưng vương triều nước Lỗ không tin dùng ông.
Mãi đến năm 51 tuổi, ông mới được bổ nhiệm chức Trung Đô Tể và sau đó là chức Tướng Quốc (đứng đầu các quan). Ở chức vụ này ông mới chứng tỏ cái tài 'kinh bang tế thế', đem lại sự ổn định và thịnh vượng cho nước Lỗ. Nhưng theo sử sách, sau 1 năm làm chức cao như thế, ông từ chức vì một lí do vớ vẩn. Trong một buổi cúng tế nào đó, vua Lỗ không chia phần thịt để ông cúng, và thế là ông ... từ chức!
Thế rồi, ông lang thang qua nhiều nước suốt 10 năm trời. Nhưng khổ nỗi trong thời gian lang thang đó, chẳng có vương triều nào tin dùng ông. Năm 68 tuổi ông đành quay về cố quốc (nước Lỗ), tiếp tục dạy học và viết sách. Thật ra, ông chỉ ghi chép những gì ông thích về thời xưa mà ông xem là hoàn chỉnh rồi. Ông viết được 5 cuốn sách gọi là 'Ngũ Kinh': Kinh Dịch (bói toán), Kinh Thư (văn kiện của các vua quan), Kinh Thi (các bài thơ ca), Kinh Lễ (các nghi thức về cúng tế và hội họp) và Kinh Nhạc.
Tri thiên mệnh thời Khổng Tử
Ông tóm tắt cuộc đời mình như sau: "Ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học, tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập nhi tri thiên mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận, và thất thập nhi tùng tâm sở dục bất du củ". Có thể hiểu câu đó là:
• 15 tuổi mới chú tâm vào học hành;
• 30 tuổi mới tự lập;
• 40 tuổi mới thấu hiểu sự việc trong thiên hạ;
• 50 tuổi mới biết mệnh trời;
• 60 tuổi mới có kiến thức và kinh nghiệm hoàn hảo để đánh giá sự việc;
• 70 tuổi mới có thể nói / làm những điều theo ý mình mà không đi ra ngoài khuôn khổ của đạo lí.
Đó là cuộc đời của Khổng Tử do chính ông tóm lược. Câu 'tri thiên mệnh' áp dụng cho ông mà thôi. Ấy vậy mà không hiểu sao sau này nhiều người giải thích câu đó như là qui luật của cuộc sống. Người ta giải thích rằng câu 'Ngũ thập nhi tri thiên mệnh' có nghĩa là khi đến 50 tuổi thì người ta thông hiểu chân lí của tạo hoá (mệnh trời). Thật ra, đến 50 tuổi thì Khổng Tử mới được bổ nhiệm làm quan kha khá, nên có lẽ vì thế mà ông nghĩ lúc đó mình đã ngộ ra nhiều điều.
Khổng Tử rất xem thường tiểu nhân. Ông dành rất nhiều trang để so sánh giữa quân tử và tiểu nhân, nhằm nâng cao cái vai trò và vị trí chánh thống của quân tử. Những so sánh này được những kẻ 'vương quyền' tận dụng triệt để củng cố vị thế thống trị của họ.
Đọc lại những gì Khổng Tử nói làm tôi liên tưởng đến những quan chức (mà ngày xưa Khổng Tử gọi là 'quân tử') đang hành hạ người dân. Tưởng cần nhắc lại rằng xã hội Trung Hoa thời Khổng Tử chia thành 3 giai tầng: vương hầu, quân tử, và tiểu nhân. Vương hầu như tên gọi là thuộc dòng dõi quí tộc, hay những kẻ có nhiều đất đai, tài sản và người hầu kẻ ở. Quân tử là bọn 'sĩ' chỉ phục vụ cho bọn vương triều để thống trị bọn 'tiểu nhân'. Tiểu nhân là thường dân, đa số là nông dân.
Khổng Tử rất xem thường tiểu nhân
Có thể nói 3 giai tầng đó vẫn hiện diện ngày nay trong xã hội Việt Nam nhưng dưới cái tên khác. Thay vì vương quyền, chúng ta có ... 'nhóm lợi ích' và 'đảng quyền'. Thay vì 'quân tử', chúng ta có 'quan chức'. Thay vì 'tiểu nhân', chúng ta có dân thường, 'dân oan'. Có thể quan chức ngày nay không dùng từ tiểu nhân cho dân thường, nhưng cách làm và nói của họ cho thấy họ dân như ... 'tiểu nhân'.
Quan chức ngày nay phục vụ cho đảng và nhà cầm quyền chính là giai cấp 'quân tử' ngày xưa. Có khác chăng là ngày xưa, giai cấp quân tử phải qua huấn luyện về lễ (nghi thức), nhạc, xạ (võ nghệ), ngự (điều hành), thư (văn chương), và sổ (bói toán). Còn quan chức ngày cũng qua những huấn luyện nhưng không đầy đủ hay bị lệch lạc, nên họ không thể nào đạt được 'tri thiên mệnh', không thể nào 'có kiến thức và kinh nghiệm hoàn hảo để đánh giá sự việc', và do đó họ làm sai rất nhiều. Cứ nhìn những bản án dành cho nhóm Báo Sạch thì thấy ngay.
Thời nay, nghĩ lại những gì ông ấy (Khổng Tử) nói cũng không phải là quá xa thực tế lắm đâu. Ở tuổi đôi mươi, người ta học hành và đạt được một kiến thức hay/và kĩ năng nào đó. Trong độ tuổi đó, người ta cảm thấy 'ngứa ngoáy', nhìn đâu cũng thấy vấn đề, nhìn đâu cũng muốn thay đổi, và nhìn ai cũng thấy có vấn đề. Những người ở độ tuổi này, khi có chút bằng cấp, rất dễ thành những kẻ mà dân gian hay nói là 'ngựa non háu đá'. Quả thật, có những người như thế: họ thích phê bình và chỉ trích người khác, một phần là xuất phát từ thiện ý, nhưng một phần là để nâng mình lên và tìm một vị trí trong xã hội.
Những người như thế phải đợi đến tuổi 50 hay 60 mới thấy mình ngây thơ và non dạ. Thật vậy, bắt đầu tuổi 40, họ đã qua vài lần vấp ngã và bắt đầu hiểu rằng xã hội phức tạp hơn mình nghĩ, và tài mình chỉ thuộc loại 'mọn' mà thôi. Đến tuổi 50 hay 60, họ nhìn lại những gì đã phát biểu sẽ thấy ... ngượng. Ngượng là vì thấy sao mình gây thơ và non dạ quá, có những hành vi ngông cuồng, những tánh cách không phải đạo. (Nếu họ không biết ngượng thì họ có vấn đề). Từ ngượng họ sẽ thành khiêm cung hơn trong phát biểu. Đa số cũng sẽ chuyển hướng trong suy nghĩ từ 'cấp tiến' sang bảo thủ.
'Tri thiên mệnh' của Tây
Khổng Tử chỉ dùng trải nghiệm cá nhân mà đề ra những giai đoạn cuộc đời. Ông không có làm nghiên cứu khoa học như ngày nay. Ở phương Tây, người ta (như Daniel Levinson chẳng hạn) làm nghiên cứu khoa học đàng hoàng và phân chia cuộc đời thành 8 giai đoạn chánh:
Giai đoạn 20-40
• Tuổi 17 - 23 (chuyển tiếp thành người trưởng thành): trong giai đoạn này, người ta bắt đầu suy nghĩ về vị trí của mình trong thế giới ngoài gia đình và thể chế (như trường học chẳng hạn).
• Tuổi 23-28 (vào tuổi trưởng thành), người ta bắt đầu phát triển một căn cước tính cho riêng mình trong thế giới mà họ chọn.
• Tuổi 29-33 (điều chỉnh) họ đã bắt đầu xem lại những thành tựu và điều chỉnh cuộc sống.
• Tuổi 34-40 (ổn định) họ phấn đấu để hoàn tất những mục tiêu cuộc đời, và bắt đầu lo cho gia đình và cộng đồng.
Giai đoạn 40-60
• Tuổi 40-45 (bước vào giữa đời) người ta bắt đầu điểm qua những hướng đi từ tuổi 30 xem có còn phù hợp để chuyển sang một hướng đi khác. Ở tuổi này, người ta cũng bắt đầu nghĩ đến cái chết, nghĩ đến sự hạn chế của những thành tựu cá nhân, và tìm những câu trả lời những câu hỏi cuộc sống đặt ra.
• Tuổi 46-50 (giữa đời) là giai đoạn tìm sự an toàn và đã có những câu trả lời đặt ra trước đây.
• Tuổi 50-55 (chuyển tiếp giữa đời) là giai đoạn tiếp tục đặt ra những câu hỏi về thế giới chung quanh và cuộc sống.
• Tuổi 55-60 là giai đoạn tìm câu hỏi đặt ra trong tuổi 50-55 và điều chỉnh những lựa chọn trong cuộc sống.
Không thấy Levinson nói gì về giai đoạn sau 60. Nhưng đọc qua những gì ông ấy lí giải (có lẽ chưa đầy đủ) tôi thấy nó liên quan đến sự nghiệp hơn là nhân sinh quan. So sánh giữa 2 cách phân tách, chúng ta thấy người phương Tây họ 'trưởng thành' sự nghiệp nhanh hơn người Á Đông chúng ta. Ở tuổi 23-28 mà họ đã có căn cước tánh rồi, trong khi đó người Á Đông mới qua giai đoạn học hành. Ở tuổi 30-40, người phương Tây đã có sự nghiệp, còn người Á Đông chỉ mới 'thấu hiểu việc thiên hạ' mà thôi, thậm chí tuổi 50 cũng chỉ mới 'biết mệnh trời'.
Có lẽ vì chịu ảnh hưởng cái qui luật của Khổng Tử mô tả, nên người Á Đông chúng ta có vẻ trầm tĩnh hơn người phuơng Tây. Và, cũng có lẽ chính vì thế mà những người ở tuổi 60-70 nhìn giới trẻ múa may, kể cả lố bịch, một cách độ lượng hơn. Những người tre trẻ đang hăng máu háu thắng và những kẻ đang ngồi trên ghế toà án ra những bản án bất lương cho người vô tội cũng nên biết qui luật của Khổng Tử và 'lí thuyết cuộc đời' của Levinson để biết cái mình chưa biết và bớt sai lầm hơn.
- GS Nguyễn Tuấn
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét