Này các Tỳ-kheo, vô minh đi trước, làm cho đạt được các pháp bất thiện; tiếp theo là không xấu hổ, không sợ hãi.
***
Này các Tỳ-kheo, có hai pháp trắng này che chở cho đời. Thế nào là hai? Xấu hổ và sợ hãi. Này các Tỳ-kheo, nếu hai pháp này không che chở cho đời, thời ở đây không có sự phân biệt giữa mẹ, chị em của mẹ, vợ của anh em của mẹ, hay giữa vợ của bậc giáo thọ sư, giữa những người vợ của những bậc đáng được kính trọng; thế giới sẽ rơi vào loạn luân như các loài dê, cừu, gia cầm, heo, chó và các con chó rừng.
***
Những ai với chánh trí
Biết con đường vô vi
Tâm tư được giải thoát
Nuôi dưỡng hữu bị diệt
Những ai chứng đạt được
Gốc lõi của các pháp
Hoan hỉ trong diệt tận
Những vị ấy như vậy
Đã từ bỏ hoàn toàn
Tất cả mọi sanh hữu.
***
Này các Tỳ-kheo, hãy sống ưa muốn ẩn dật thiền định, thích thú ẩn dật thiền tịnh, chuyên chú vào nội tâm tịnh chỉ, không gián đoạn thiền tịnh, thành tựu quán trí, hành trì hạnh đi đến các ngôi nhà trống. Những Tỳ-kheo nào làm được như vậy, thời được đắc một trong hai quả này: ngay trong hiện tại được chánh tri, hay nếu có dư y, được quả Bất Lai.
***
Này các Tỳ-kheo, phải sống cảnh giác, chánh niệm, tỉnh giác, thiền định, hoan hỉ, tín thành, và ở đây quán tri đúng thời trong các pháp thiện, thời được đắc một trong hai quả này: ngay trong hiện tại được chánh tri, hay nếu có dư y, được quả Bất Lai.
Hỡi các bậc cảnh giác
Hãy lắng nghe điều này
Những ai còn nằm ngủ
Hãy thức dậy tỉnh thức
Thức tỉnh là tốt hơn
Hơn kẻ đang nằm ngủ
Đối với người thức tỉnh
Không có sự sợ hãi
Người thức tỉnh thức giấc
Chánh niệm và tỉnh giấc
Thiền định, tâm hoan hỷ
Nhiệt tình đầy tín thành
Chân chánh biết thời giờ
Thắng quán đến Chánh pháp
Đạt được sự nhất tâm
Quét sạch mọi tăm tối
Do vậy, hãy tu tập
Thức tỉnh và nhiệt tình
Vị Tỳ-kheo thông minh
Thận trọng, chứng cảnh thiền
Chặt đứt các kết sử
Trói buộc sanh với già
Chính tại ở đời này
Chứng chánh giác Vô thượng.
Kinh Nikaya
Chủ Nhật, 7 tháng 8, 2016
Điều này đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A-la-hán nói đến và tôi đã được nghe:
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không có nhiệt tình, không có sợ hãi, không có thể chứng được Chánh giác, không có thể chứng được Niết-bàn, không có thể chứng được vô thượng an ổn khỏi các khổ ách. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có nhiệt tình, có sợ hãi, có thể chứng được giác ngộ, có thể chứng được Niết-bàn, có thể chứng được vô thượng an ổn khỏi các khổ ách. Thế Tôn đã nói lên ý nghĩa này. Ở đây, điều này được nói đến.
Người không có nhiệt tình,
Người không có nhiệt tình,
Không có biết sợ hãi,
Biếng nhác, không tinh cần,
Nhiều hôn trầm thụy miên,
Không biết đến xấu hổ,
Không có lòng tôn kính,
Vị Tỷ-kheo như vậy,
Không có thể đạt tới,
Tối thượng Chánh-Đẳng-Giác.
Ai giữ được chánh niệm,
Thông minh, tu thiền định,
Nhiệt tình, biết sợ hãi,
Và không có phóng dật,
Sau khi chặt đứt được
Kiết sử sanh và già,
Ở đây có thể đạt,
Chánh Đẳng Giác vô thượng.
Kinh Nikaya
Cắt đứt được luân chuyển
Đạt được sự không dục
Hoàn toàn được khô cạn
Nước sông không chảy nữa
Cắt đứt lưu chuyển đứng
Là giải thoát đau khổ.
***
Cần làm gì với giếng
Khi nước có cùng khắp
Chặt đứt ái từ gốc
Cần hành tầm cầu gì?
***
Cái gì có nương tựa, cái ấy có dao động. Cái gì không nương tựa, cái ấy không dao động. Không có dao động thì có khinh an. Có khinh an thì không có thiên về. Không có thiên về thì không có đến và đi. Không có đến và đi thì không có diệt và sanh. Không có diệt và sanh thì không có đời này, không có đời sau, không có đời ở giữa. Đây là sự đoạn tận khổ đau.
***
Này Visàkhà, những ai có một trăm người thân yêu, những người ấy có trăm sự đau khổ! Những ai có chín mươi người thân yêu, những người ấy có chín mươi sự đau khổ! Những ai có tám mươi người thân yêu, những người ấy có tám mươi sự đau khổ! Những ai có bảy mươi.. có sáu mươi... có năm mươi... có bốn mươi... có ba mươi.. có hai mươi... có mười.. có chín... có tám... có bảy..có sáu.. có năm... có bốn... có ba... có hai... có một người thân yêu, những người ấy có một sự đau khổ. Những ai không có người thân yêu, những người ấy không có sự đau khổ. Ta nói rằng họ là người không có sầu, không có tham đắm, không có ưu não.
Kinh Nikaya
Đạt được sự không dục
Hoàn toàn được khô cạn
Nước sông không chảy nữa
Cắt đứt lưu chuyển đứng
Là giải thoát đau khổ.
***
Cần làm gì với giếng
Khi nước có cùng khắp
Chặt đứt ái từ gốc
Cần hành tầm cầu gì?
***
Cái gì có nương tựa, cái ấy có dao động. Cái gì không nương tựa, cái ấy không dao động. Không có dao động thì có khinh an. Có khinh an thì không có thiên về. Không có thiên về thì không có đến và đi. Không có đến và đi thì không có diệt và sanh. Không có diệt và sanh thì không có đời này, không có đời sau, không có đời ở giữa. Đây là sự đoạn tận khổ đau.
***
Này Visàkhà, những ai có một trăm người thân yêu, những người ấy có trăm sự đau khổ! Những ai có chín mươi người thân yêu, những người ấy có chín mươi sự đau khổ! Những ai có tám mươi người thân yêu, những người ấy có tám mươi sự đau khổ! Những ai có bảy mươi.. có sáu mươi... có năm mươi... có bốn mươi... có ba mươi.. có hai mươi... có mười.. có chín... có tám... có bảy..có sáu.. có năm... có bốn... có ba... có hai... có một người thân yêu, những người ấy có một sự đau khổ. Những ai không có người thân yêu, những người ấy không có sự đau khổ. Ta nói rằng họ là người không có sầu, không có tham đắm, không có ưu não.
Kinh Nikaya
Thứ Bảy, 6 tháng 8, 2016
Tâm chẳng thanh tịnh, chẳng thể nào khai ngộ. Vì thế, chuyện chẳng cần phải biết bèn chẳng cần biết đến, người chẳng cần quen biết, chẳng cần xã giao. Tôi bảo mọi người đừng đọc báo, đừng xem TV, hãy buông hết xuống, thân tâm thanh tịnh, đắc tự tại. Nói thực tại, đối với sức khỏe thân thể hay tinh thần đều có ích rất lớn, tâm thanh tịnh, thân liền thanh tịnh, trăm bệnh chẳng sanh! Quý vị bị bệnh là do tâm chẳng trong sạch, thân chẳng trong sạch. Vì lẽ đó, ăn uống phải đơn giản, bao tử sạch sẽ, tâm sạch làu, người ấy chẳng sanh bệnh. Đến khi lâm chung, biết trước lúc mất, tự tại vãng sanh Cực Lạc, tốt đẹp lắm! Đấy mới chính là điều người học Phật mong cầu! Những chuyện khác đều chẳng liên quan đến chúng ta, hãy nên bỏ sạch sành sanh, đừng bận tâm tới chúng!
HT Tịnh Không
Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2016
Mẹ tôi ốm, con tôi đau răng. Mỗi lần nghe tin ốm đau như thế này, tôi lại thấy chán nản. Tôi biết, đây là những động lực thúc đẩy tôi không được lười nhác, càng phải chăm chỉ làm việc và càng phải nỗ lực tu tập hơn nữa. Làm việc để có thêm tài chính, tu tập để tạo thêm công đức, phước đức, để mong hồi hướng cho người thân.
Cố lên nào, đừng để tâm chán chường mỏi mệt bám lấy mình nữa!
Cố lên nào, đừng để tâm chán chường mỏi mệt bám lấy mình nữa!
Lửa nào bằng lửa tham
Chấp nào bằng sân hận
Lưới nào bằng lưới si
Sông nào bằng sông ái!
***
Không phải vì nói nhiều
Mới xứng danh bậc trí
An ổn, không oán sợ
Thật đáng gọi bậc trí.
***
Không phải vì nói nhiều
Mới xứng danh trì pháp
Những ai tuy nghe ít
Nhưng thân hành đúng pháp
Không phóng túng chánh pháp
Mới xứng danh trì pháp.
***
Người siêng năng cần mẫn
Thường thường quán thân niệm
Không làm việc không đáng
Gắng làm việc đáng làm
Người tu niệm giác tỉnh
Lậu hoặc được tiêu trừ.
***
Ai ngồi nằm một mình
Độc hành không buồn chán
Tự điều phục một mình
Sống thoải mái rừng sâu
***
Người ưa ngủ, ăn lớn
Nằm lăn lóc qua lại
Chẳng khác heo no bụng
Kẻ ngu nhập thai mãi
***
Bỏ quá, hiện, vị lai
Đến bờ kia cuộc đời
Ý giải thoát tất cả
Chớ vướng lại sanh già
***
Pháp thí thắng mọi thí
Pháp vị thắng mọi vị
Pháp hỷ thắng mọi hỷ
Ái diệt dứt mọi khổ
***
Không trí tuệ, không thiền
Không thiền, không trí tuệ
Người có thiền có tuệ
Nhất định gần Niết bàn
***
Tự mình chỉ trích mình
Tự mình dò xét mình
Tỷ kheo tự phòng hộ
Chánh niệm, trú an lạc.
Kinh Nikaya
Chấp nào bằng sân hận
Lưới nào bằng lưới si
Sông nào bằng sông ái!
***
Không phải vì nói nhiều
Mới xứng danh bậc trí
An ổn, không oán sợ
Thật đáng gọi bậc trí.
***
Không phải vì nói nhiều
Mới xứng danh trì pháp
Những ai tuy nghe ít
Nhưng thân hành đúng pháp
Không phóng túng chánh pháp
Mới xứng danh trì pháp.
***
Người siêng năng cần mẫn
Thường thường quán thân niệm
Không làm việc không đáng
Gắng làm việc đáng làm
Người tu niệm giác tỉnh
Lậu hoặc được tiêu trừ.
***
Ai ngồi nằm một mình
Độc hành không buồn chán
Tự điều phục một mình
Sống thoải mái rừng sâu
***
Người ưa ngủ, ăn lớn
Nằm lăn lóc qua lại
Chẳng khác heo no bụng
Kẻ ngu nhập thai mãi
***
Bỏ quá, hiện, vị lai
Đến bờ kia cuộc đời
Ý giải thoát tất cả
Chớ vướng lại sanh già
***
Pháp thí thắng mọi thí
Pháp vị thắng mọi vị
Pháp hỷ thắng mọi hỷ
Ái diệt dứt mọi khổ
***
Không trí tuệ, không thiền
Không thiền, không trí tuệ
Người có thiền có tuệ
Nhất định gần Niết bàn
***
Tự mình chỉ trích mình
Tự mình dò xét mình
Tỷ kheo tự phòng hộ
Chánh niệm, trú an lạc.
Kinh Nikaya
Thứ Tư, 3 tháng 8, 2016
Trong friendlist trên FB của tôi có một người bạn li dị. Hôm nay đọc được một bài khá hay, tôi share, định là để bạn đọc. Nhưng rồi, lại nghĩ, tâm mình vẫn động niệm quá.
Buổi chiều, group mà tôi theo dõi cũng bàn về chủ đề ngoại tình. Tôi cũng lại nhảy vào comment.
Tâm tôi chưa an trụ. Những gì tôi biết về Phật pháp còn quá ít ỏi, và tất cả mới chỉ là giải ngộ chứ chưa phải là chứng ngộ, vậy nên tất cả những gì tôi nói ra vẫn còn là lời nói đầu môi.
Tôi phải nghiêm khắc tự kiểm điểm bản thân ở chỗ này.
Buổi chiều, group mà tôi theo dõi cũng bàn về chủ đề ngoại tình. Tôi cũng lại nhảy vào comment.
Tâm tôi chưa an trụ. Những gì tôi biết về Phật pháp còn quá ít ỏi, và tất cả mới chỉ là giải ngộ chứ chưa phải là chứng ngộ, vậy nên tất cả những gì tôi nói ra vẫn còn là lời nói đầu môi.
Tôi phải nghiêm khắc tự kiểm điểm bản thân ở chỗ này.
Từ xa Bà la môn cày ruộng. Bà-la-đậu-bà-giá nhìn thấy Đức Thế Tôn, bèn thưa rằng:
“Bạch Cù đàm, nay tôi cày ruộng, gieo giống để cung cấp lương thực. Vậy, Sa môn Cù đàm cũng nên cày ruộng gieo giống để cung cấp lương thực!”
Phật bảo Bà la môn:
“Ta cũng cày ruộng gieo giống, để cung cấp lương thực.”
Bà la môn bạch Phật:
“Tôi không thấy Sa môn Cù đàm sắm cái cày, cái ách, dây buộc, cái bừa, hay cái roi, mà nay
Cù đàm lại nói:
“Bạch Cù đàm, nay tôi cày ruộng, gieo giống để cung cấp lương thực. Vậy, Sa môn Cù đàm cũng nên cày ruộng gieo giống để cung cấp lương thực!”
Phật bảo Bà la môn:
“Ta cũng cày ruộng gieo giống, để cung cấp lương thực.”
Bà la môn bạch Phật:
“Tôi không thấy Sa môn Cù đàm sắm cái cày, cái ách, dây buộc, cái bừa, hay cái roi, mà nay
Cù đàm lại nói:
“Ta cũng cày ruộng, gieo giống, để cung cấp lương thực!”
Lúc ấy, Bà la môn cày ruộng Bà-la-đậu-bà-giá liền nói kệ rằng:
Người tự nói cày ruộng,
Mà không thấy cái cày;
Lại bảo tôi cày ruộng.
Xin cho biết phép cày.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói kệ đáp lại rằng:
Tín tâm là hạt giống,
Khổ hạnh mưa đúng mùa,
Trí tuệ là cày, ách,
Tàm quý là cán cày.
Tự gìn giữ chánh niệm,
Là người giỏi chế ngự.
Giữ kín nghiệp thân, miệng,
Như thực phẩm trong kho.
Chân thật là xe tốt,
Sống vui không biếng nhác,
Tinh tấn không bỏ hoang,
An ổn mà tiến nhanh,
Thẳng đến không trở lại,
Đến được chỗ không lo.
Người cày ruộng như vậy,
Chứng đắc quả Niết bàn.
Người cày ruộng như vậy,
Không tái sinh các hữu.
Bấy giờ, Bà la môn cày ruộng Bà-la-đậu-bà-giá bạch Phật rằng:
“Cù đàm rất giỏi cày ruộng! Cù đàm cày ruộng thật hay!”
Lúc ấy, Bà la môn cày ruộng Bà-la-đậu-bà-giá liền nói kệ rằng:
Người tự nói cày ruộng,
Mà không thấy cái cày;
Lại bảo tôi cày ruộng.
Xin cho biết phép cày.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói kệ đáp lại rằng:
Tín tâm là hạt giống,
Khổ hạnh mưa đúng mùa,
Trí tuệ là cày, ách,
Tàm quý là cán cày.
Tự gìn giữ chánh niệm,
Là người giỏi chế ngự.
Giữ kín nghiệp thân, miệng,
Như thực phẩm trong kho.
Chân thật là xe tốt,
Sống vui không biếng nhác,
Tinh tấn không bỏ hoang,
An ổn mà tiến nhanh,
Thẳng đến không trở lại,
Đến được chỗ không lo.
Người cày ruộng như vậy,
Chứng đắc quả Niết bàn.
Người cày ruộng như vậy,
Không tái sinh các hữu.
Bấy giờ, Bà la môn cày ruộng Bà-la-đậu-bà-giá bạch Phật rằng:
“Cù đàm rất giỏi cày ruộng! Cù đàm cày ruộng thật hay!”
Thứ Ba, 2 tháng 8, 2016
Tôi vừa đọc một bài kinh, trong tập A-Hàm, và bài kinh cho tôi thấy từ trước tới nay tôi chủ quan và dễ dãi với những kiến thức của mình biết bao.
Từ khi chưa học Phật, khi nghe đến từ "vô thường" tôi cũng gật gù, ra chiều đã hiểu lắm. Đọc vài pho kinh, thấy hay nhắc đến "vô thường", tôi cũng lướt lướt đọc qua, vì cho rằng đã hiểu rồi. Tôi chỉ lờ mờ nhận ra rằng, hình như, đấy mới chỉ là bước "giải ngộ" chứ chưa "chứng ngộ", nên tạm gọi là hiểu mà không hành được.
Bài kinh mới đọc kể chuyện ngài La-hầu-la tới gặp đức Phật, xin Người dạy cho pháp tăng thượng. Phật thấy ngài La-hầu-la tâm chưa thuần thục nên bảo ngài hãy đi giảng nói cho người khác về năm thọ ấm. Ngài La-hầu-la làm theo, nhưng Phật vẫn thấy chưa đến lúc nên lại bảo ngài đi giảng nói về sáu nhập xứ. Cứ như thế, vài ba lần. Rồi Phật thấy vẫn chưa ăn thua, lại bảo ngài La-hầu-la tự ngồi chỗ thanh vắng mà tư duy, quán chiếu nghĩa của những pháp mà ngài đã giảng nói. Rốt cuộc, mãi sau đó, Phật mới thấy rằng tâm của ngài La-hầu-la đã thuần thục, đủ điều kiện để lãnh thọ pháp tăng thượng nên mới đồng ý giảng nói cho ngài. Pháp tăng thượng của Phật là gì? - "Sắc là vô thường, vô thường là khổ,..."
Vậy đấy, cái hiểu của tôi nó mới chỉ dừng ở nơi đầu môi chót lưỡi mà thôi, vậy mà tôi đã yên tâm rồi. Phải là người có tâm tăng thượng mới hiểu được rốt ráo ý nghĩa của hai chữ "vô thường," chứ không thể dễ dàng như người ta ca một bài ca dìu dặt nào đó nhắc đến "vô thường". Cái tâm dễ dãi, nó thật tai hại làm sao!
Từ khi chưa học Phật, khi nghe đến từ "vô thường" tôi cũng gật gù, ra chiều đã hiểu lắm. Đọc vài pho kinh, thấy hay nhắc đến "vô thường", tôi cũng lướt lướt đọc qua, vì cho rằng đã hiểu rồi. Tôi chỉ lờ mờ nhận ra rằng, hình như, đấy mới chỉ là bước "giải ngộ" chứ chưa "chứng ngộ", nên tạm gọi là hiểu mà không hành được.
Bài kinh mới đọc kể chuyện ngài La-hầu-la tới gặp đức Phật, xin Người dạy cho pháp tăng thượng. Phật thấy ngài La-hầu-la tâm chưa thuần thục nên bảo ngài hãy đi giảng nói cho người khác về năm thọ ấm. Ngài La-hầu-la làm theo, nhưng Phật vẫn thấy chưa đến lúc nên lại bảo ngài đi giảng nói về sáu nhập xứ. Cứ như thế, vài ba lần. Rồi Phật thấy vẫn chưa ăn thua, lại bảo ngài La-hầu-la tự ngồi chỗ thanh vắng mà tư duy, quán chiếu nghĩa của những pháp mà ngài đã giảng nói. Rốt cuộc, mãi sau đó, Phật mới thấy rằng tâm của ngài La-hầu-la đã thuần thục, đủ điều kiện để lãnh thọ pháp tăng thượng nên mới đồng ý giảng nói cho ngài. Pháp tăng thượng của Phật là gì? - "Sắc là vô thường, vô thường là khổ,..."
Vậy đấy, cái hiểu của tôi nó mới chỉ dừng ở nơi đầu môi chót lưỡi mà thôi, vậy mà tôi đã yên tâm rồi. Phải là người có tâm tăng thượng mới hiểu được rốt ráo ý nghĩa của hai chữ "vô thường," chứ không thể dễ dàng như người ta ca một bài ca dìu dặt nào đó nhắc đến "vô thường". Cái tâm dễ dãi, nó thật tai hại làm sao!
Thứ Hai, 1 tháng 8, 2016
Theo những cảm nhận của tôi, dường như cách đối đáp của các bậc thiền sư cũng phần nào giống cách nói đầy hình ảnh và ẩn dụ của Phật xưa kia. Chẳng hạn, Phật nói: "Tất cả đều bốc cháy", "Hãy tu hành một pháp để được pháp vị cam lồ." Nhưng điểm khác, hình như, nằm ở chỗ, sau khi Phật nói xong, thì hoặc là Phật tự hỏi lại đồ chúng, hoặc trong đồ chúng có người đứng lên hỏi: Thế nào là tất cả đều bốc cháy? Thế nào là tu hành một pháp để được pháp vị cam lồ? Và những khúc mắc được giải đáp. Hình ảnh mà Phật ví dụ trở nên rõ ràng, thông suốt, không còn gì ngăn ngại với trí hiểu biết của người nghe. Cho nên mới có chuyện, ở kinh này Phật nói "tu một pháp" và Phật giải ra rằng Người đang nói đến pháp A, nhưng ở kinh khác, Phật cũng lại nói "tu một pháp" nhưng lại nói đến pháp B.
Cách giảng dạy của Phật cũng vô cùng đa dạng. Có khi Phật nói một cách rất vắn tắt rồi hỏi đệ tử: Với nghĩa mà ta vừa tóm lược, thầy nói rộng ra như thế nào? Cũng có khi ngược lại, Phật diễn rộng một vấn đề rồi yêu cầu đệ tử: Với nghĩa mà ta vừa diễn rộng, thầy tóm lược lại ra sao?
Nhưng cốt yếu, dù diễn rộng hay thu hẹp, dù dùng ví dụ hay không ví dụ, rốt cuộc thông điệp của Phật vẫn được trình bày đầy đủ, rõ ràng, không có chỗ cho sự mập mờ.
Ngược lại, dường như các vị thiền sư chỉ dừng ở chỗ: "Tất cả đều bốc cháy", và sau đó hoặc là ngài không chịu diễn giải thêm, hoặc là người xin pháp không hỏi tiếp. Trong khi những hình ảnh ví dụ thì có thể tượng trưng cho muôn vàn. Có người nói, vì sự huyền bí một cách chủ ý này mà thiền tông mạt dần; hoặc theo một cách diễn giải khác nhưng có lẽ cũng giống như hai mặt của một đồng xu, ngày nay các bậc thượng căn ít nên ít người thâm nhập được vào đất thiền.
Tới đây tôi lại chợt nhớ tới 1 câu chuyện thiền. Rằng thuở trước, ở Nhật Bản có lệ những bậc thiền sư/thiền sinh khi đi du hành, giữa đường tới một ngôi chùa nào đó muốn xin tá túc qua đêm thì phải vấn đáp với trụ trì ở chùa đó, nếu thắng thì được lưu lại, thua thì phải đi tiếp. Có một vị thiền sư vào một ngôi chùa lạ, xin được vấn đáp với trụ trì. Trong chùa có hai sư thầy, một người trụ trì thông tuệ, người kia thì độn căn lại chột mắt. Nhưng hôm đó, vị trụ trì thấy mệt trong người nên bảo thầy kia ra đối đáp thay, không quên dặn là hãy dùng cử chỉ mà đối đáp, đừng dùng lời kẻo lộ cái chỗ kém hiểu biết của mình ra. Một lát sau, người khách vãng lai tới gặp trụ trì và xin đi vì thầy kia đối đáp quá hay. Trụ trì yêu cầu vị khách kể lại buổi đối đáp thì được vị khách trả lời rằng:
"Khi tôi giơ 1 ngón tay lên để chỉ Phật, bậc tối thượng trong muôn loài thì thầy ấy giơ 2 ngón tay lên, ý muốn bảo tôi rằng phải nói đến cả Phật và Pháp của Phật nữa. Vậy là tôi giơ 3 ngón tay lên, ý rằng cả Phật, Pháp, Tăng. Nhưng rồi thầy ấy giơ 1 nắm đấm lên như muốn bảo tôi rằng tất cả đều bắt nguồn từ một thể. Tôi thật phục thầy ấy quá."
Sau khi vị khách đi, sư thầy kia mặt hằm hằm tới hỏi trụ trì:
"Tên khách láo xược kia đi đâu rồi?"
Trụ trì ngạc nhiên hỏi nguyên cớ thì thầy kia thuật lại buổi vấn đáp mà rằng:
"Khi vừa trông thấy tôi, hắn ta đã giơ 1 ngón tay lên, ra chiều chê tôi chột mắt. Nhưng vì nghĩ lão ta là khách nên tôi dằn lòng giơ 2 ngón tay lên, ý muốn mừng cho lão ta có đủ 2 mắt. Nhưng cái lão quái quỷ ấy không chịu buông tha, lại giơ 3 ngón tay lên, cho rằng giữa hai người mà chỉ có 3 con mắt. Thế là tôi liền giơ nắm đấm lên định cho hắn một trận thì hắn chạy đi mất!"
Cách giảng dạy của Phật cũng vô cùng đa dạng. Có khi Phật nói một cách rất vắn tắt rồi hỏi đệ tử: Với nghĩa mà ta vừa tóm lược, thầy nói rộng ra như thế nào? Cũng có khi ngược lại, Phật diễn rộng một vấn đề rồi yêu cầu đệ tử: Với nghĩa mà ta vừa diễn rộng, thầy tóm lược lại ra sao?
Nhưng cốt yếu, dù diễn rộng hay thu hẹp, dù dùng ví dụ hay không ví dụ, rốt cuộc thông điệp của Phật vẫn được trình bày đầy đủ, rõ ràng, không có chỗ cho sự mập mờ.
Ngược lại, dường như các vị thiền sư chỉ dừng ở chỗ: "Tất cả đều bốc cháy", và sau đó hoặc là ngài không chịu diễn giải thêm, hoặc là người xin pháp không hỏi tiếp. Trong khi những hình ảnh ví dụ thì có thể tượng trưng cho muôn vàn. Có người nói, vì sự huyền bí một cách chủ ý này mà thiền tông mạt dần; hoặc theo một cách diễn giải khác nhưng có lẽ cũng giống như hai mặt của một đồng xu, ngày nay các bậc thượng căn ít nên ít người thâm nhập được vào đất thiền.
Tới đây tôi lại chợt nhớ tới 1 câu chuyện thiền. Rằng thuở trước, ở Nhật Bản có lệ những bậc thiền sư/thiền sinh khi đi du hành, giữa đường tới một ngôi chùa nào đó muốn xin tá túc qua đêm thì phải vấn đáp với trụ trì ở chùa đó, nếu thắng thì được lưu lại, thua thì phải đi tiếp. Có một vị thiền sư vào một ngôi chùa lạ, xin được vấn đáp với trụ trì. Trong chùa có hai sư thầy, một người trụ trì thông tuệ, người kia thì độn căn lại chột mắt. Nhưng hôm đó, vị trụ trì thấy mệt trong người nên bảo thầy kia ra đối đáp thay, không quên dặn là hãy dùng cử chỉ mà đối đáp, đừng dùng lời kẻo lộ cái chỗ kém hiểu biết của mình ra. Một lát sau, người khách vãng lai tới gặp trụ trì và xin đi vì thầy kia đối đáp quá hay. Trụ trì yêu cầu vị khách kể lại buổi đối đáp thì được vị khách trả lời rằng:
"Khi tôi giơ 1 ngón tay lên để chỉ Phật, bậc tối thượng trong muôn loài thì thầy ấy giơ 2 ngón tay lên, ý muốn bảo tôi rằng phải nói đến cả Phật và Pháp của Phật nữa. Vậy là tôi giơ 3 ngón tay lên, ý rằng cả Phật, Pháp, Tăng. Nhưng rồi thầy ấy giơ 1 nắm đấm lên như muốn bảo tôi rằng tất cả đều bắt nguồn từ một thể. Tôi thật phục thầy ấy quá."
Sau khi vị khách đi, sư thầy kia mặt hằm hằm tới hỏi trụ trì:
"Tên khách láo xược kia đi đâu rồi?"
Trụ trì ngạc nhiên hỏi nguyên cớ thì thầy kia thuật lại buổi vấn đáp mà rằng:
"Khi vừa trông thấy tôi, hắn ta đã giơ 1 ngón tay lên, ra chiều chê tôi chột mắt. Nhưng vì nghĩ lão ta là khách nên tôi dằn lòng giơ 2 ngón tay lên, ý muốn mừng cho lão ta có đủ 2 mắt. Nhưng cái lão quái quỷ ấy không chịu buông tha, lại giơ 3 ngón tay lên, cho rằng giữa hai người mà chỉ có 3 con mắt. Thế là tôi liền giơ nắm đấm lên định cho hắn một trận thì hắn chạy đi mất!"
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ đà, nước Xá vệ. Bấy giờ, Tôn giả Phú lưu na cùng các Tỳ kheo đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi đứng lui qua một bên, bạch Phật:
“Thế Tôn nói pháp hiện thấy, nói dập tắt sự rực cháy, nói không đợi thời, nói hướng đạo chân chánh, nói chính nơi đây mà thấy, nói duyên tự tâm mà giác ngộ. Vậy, bạch Thế Tôn thế nào là pháp hiện thấy, cho đến duyên tự tâm mà giác ngộ?
Phật bảo Phú lưu na:
“Lành thay! Phú lưu na có thể hỏi những điều này. Này Phú lưu na, hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì ngươi mà nói.
“Này Phú lưu na, mắt thấy sắc rồi giác tri sắc, giác tri sắc tham. Nếu bên trong ta có sự tham ái đối với sắc được nhận thức bởi mắt, thì biết như thật rằng bên trong ta có sự tham ái đối với sắc được nhận thức bởi mắt. Này Phú lưu na, nếu mắt thấy sắc rồi giác tri sắc, giác tri sắc tham, biết như thật rằng bên trong ta có sự tham ái đối với sắc được nhận thức bởi mắt. Đó gọi là pháp được hiện thấy.
“Thế nào là dập tắt sự rực cháy? Thế nào là không đợi thời? Thế nào là hướng đạo chân chánh? Thế nào là chính nơi đây mà thấy? Thế nào là duyên tự tâm mà giác ngộ?
“Này Phú lưu na, mắt thấy sắc rồi giác tri sắc, nhưng không khởi giác tri sắc tham; biết như thật rằng bên trong ta có sự tham ái đối với sắc được nhận thức nhưng không khởi giác tri sắc tham.
Nếu Tỳ kheo, Phú lưu na, khi mắt thấy sắc, rồi giác tri sắc, không khởi giác tri sắc tham và biết như thật về sắc, biết như thật là không khởi giác tri sắc tham; gọi đó là dập tắt sự rực cháy, không đợi thời, hướng đạo chân chánh, chính nơi đây mà thấy, duyên tự tâm mà giác ngộ. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý lại cũng như vậy.”
Phật nói kinh này xong, Tỳ kheo Phú lưu na nghe những gì Đức Phật đã dạy, hoan hỷ phụng hành.
Kinh A-Hàm
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ đà, nước Xá vệ. Bấy giờ, Tôn giả Phú lưu na cùng các Tỳ kheo đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi đứng lui qua một bên, bạch Phật:
“Thế Tôn nói pháp hiện thấy, nói dập tắt sự rực cháy, nói không đợi thời, nói hướng đạo chân chánh, nói chính nơi đây mà thấy, nói duyên tự tâm mà giác ngộ. Vậy, bạch Thế Tôn thế nào là pháp hiện thấy, cho đến duyên tự tâm mà giác ngộ?
Phật bảo Phú lưu na:
“Lành thay! Phú lưu na có thể hỏi những điều này. Này Phú lưu na, hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì ngươi mà nói.
“Này Phú lưu na, mắt thấy sắc rồi giác tri sắc, giác tri sắc tham. Nếu bên trong ta có sự tham ái đối với sắc được nhận thức bởi mắt, thì biết như thật rằng bên trong ta có sự tham ái đối với sắc được nhận thức bởi mắt. Này Phú lưu na, nếu mắt thấy sắc rồi giác tri sắc, giác tri sắc tham, biết như thật rằng bên trong ta có sự tham ái đối với sắc được nhận thức bởi mắt. Đó gọi là pháp được hiện thấy.
“Thế nào là dập tắt sự rực cháy? Thế nào là không đợi thời? Thế nào là hướng đạo chân chánh? Thế nào là chính nơi đây mà thấy? Thế nào là duyên tự tâm mà giác ngộ?
“Này Phú lưu na, mắt thấy sắc rồi giác tri sắc, nhưng không khởi giác tri sắc tham; biết như thật rằng bên trong ta có sự tham ái đối với sắc được nhận thức nhưng không khởi giác tri sắc tham.
Nếu Tỳ kheo, Phú lưu na, khi mắt thấy sắc, rồi giác tri sắc, không khởi giác tri sắc tham và biết như thật về sắc, biết như thật là không khởi giác tri sắc tham; gọi đó là dập tắt sự rực cháy, không đợi thời, hướng đạo chân chánh, chính nơi đây mà thấy, duyên tự tâm mà giác ngộ. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý lại cũng như vậy.”
Phật nói kinh này xong, Tỳ kheo Phú lưu na nghe những gì Đức Phật đã dạy, hoan hỷ phụng hành.
Kinh A-Hàm
Chủ Nhật, 31 tháng 7, 2016
Tôi thấy mình cần phải tập trung vào thiền hơn nữa, nên sẽ ngừng việc đặt mục tiêu tụng kinh hàng ngày. Tập trung vào một thứ thôi, khó lòng mà san sẻ nhiều hoạt động với quỹ thời gian hiện nay. Mỗi ngày ngồi thiền được bao nhiêu tốt bấy nhiêu. Tôi sẽ vừa thiền, vừa học kinh, hiểu tới đâu lại điều chỉnh tới đó, tùy theo nhận thức của bản thân.
Để hiểu và hành như pháp, theo tôi, một hai phải có thiền định.
Cửa Phật thênh thang với mọi chúng sinh. Cái dở của các tổ sư thiền là họ đã phủ một tấm màn huyền ảo lên thiền, biến nó thành pháp môn chỉ dành riêng cho bậc thượng căn, là pháp môn có thể nhảy một bước liền vào đất Như Lai, trong khi nó là pháp môn cần thiết cho mọi hàng lợi-độn căn muốn tu Phật. Chả thế mà có hòa thượng từng ví, tu tập theo tiểu thừa giống như người leo cầu thang bộ, miệt mài bền bỉ rồi cũng đến nơi, nhưng chậm chạp; tu thiền là một bước lên giời; tu Tịnh Độ là trung dung ở giữa, ví như người đi thang máy. Đối với tôi, đó dường như là một thứ tà kiến.
***
Càng đọc kinh, càng thấy thú vị, giúp tôi giải thoát được những nỗi sợ hãi hồ đồ, những quan niệm mê tín mà tôi tiếp nhận từ trước tới giờ. Có hai câu chuyện mà tôi rất thích. Một là khi đức Phật đi xa lâu ngày trở về, tất thảy hàng xuất gia, tại gia đều nô nức đi đón Phật, riêng một vị tỳ kheo thuộc hàng đại đệ tử của Phật lại không đi, vì nghĩ tới nghĩ lui, ngài cho rằng Phật cũng không có thật tướng để mà chào. Câu chuyện thứ hai là một người bản tính kiêu mạn tới gặp Phật, được Phật cảm hóa, bèn sửa sang định hạ mình làm lễ sát chân Phật, thì Phật bảo: "Thôi! Thôi! Không cần phải làm lễ! Tâm tịnh là đủ rồi!"
Đúng vậy. Tâm tịnh là đủ rồi!
Người xưa nói, kể ra cũng chẳng sai: Quân tử giao tình như đạm thủy :)
Càng đọc kinh, càng thấy thú vị, giúp tôi giải thoát được những nỗi sợ hãi hồ đồ, những quan niệm mê tín mà tôi tiếp nhận từ trước tới giờ. Có hai câu chuyện mà tôi rất thích. Một là khi đức Phật đi xa lâu ngày trở về, tất thảy hàng xuất gia, tại gia đều nô nức đi đón Phật, riêng một vị tỳ kheo thuộc hàng đại đệ tử của Phật lại không đi, vì nghĩ tới nghĩ lui, ngài cho rằng Phật cũng không có thật tướng để mà chào. Câu chuyện thứ hai là một người bản tính kiêu mạn tới gặp Phật, được Phật cảm hóa, bèn sửa sang định hạ mình làm lễ sát chân Phật, thì Phật bảo: "Thôi! Thôi! Không cần phải làm lễ! Tâm tịnh là đủ rồi!"
Đúng vậy. Tâm tịnh là đủ rồi!
Người xưa nói, kể ra cũng chẳng sai: Quân tử giao tình như đạm thủy :)
Thứ Sáu, 29 tháng 7, 2016
Hôm nay tôi bị dội một gáo nước lạnh. Cuốn sách mà tôi vừa dịch đang trong giai đoạn biên tập, và tôi được xem một phần bản thảo biên tập đó. Tôi thấy không phục người biên tập. Tôi đã mail lại cho người phụ trách triển khai cuốn đó, vạch ra những chỗ mà tôi cho rằng mình bị sửa oan. Tôi còn kể với một người bạn khác về chuyện này, và tôi đưa một ví dụ cho cô ấy xem. Xem xong, cô ấy bảo phần người kia sửa hay hơn tôi nhiều. Tôi đem hai phiên bản hỏi một người nữa, và người này cũng chọn bản sửa của người biên tập.
Dĩ nhiên, cái ngã của tôi cảm thấy bị thương tổn nặng nề. Dường như lúc ấy tôi cảm nhận được sự tồn tại của nó - cái ngã quái quỷ. Tôi đã muốn tranh cãi với cô bạn kia, và phải vất vả lắm tôi mới kìm lòng lại được.
Tôi nhận ra vài điều. Thứ nhất, lời nói gây phiền não. Tôi đã chủ động đem chuyện nơi này truyền tới nơi kia, tự mình khiến tâm mình vọng động. Mọi chuyện thị phi, tôi hãy dừng nó lại ở ngoài cửa tâm. Giữ được tâm bình thường trước những khen chê quả là khó. Phá đi cái ngã chấp thật gian nan. Giữa cái việc giữ lòng không ham tranh đấu với việc làm một con rùa rụt cổ là một ranh giới mỏng manh vi tế, thoạt nhìn sẽ có cảm giác như đạo Phật là đạo cầu an tránh đời. Nhưng cái tâm lý ham tranh danh đoạt lợi kia, tôi đã được vun vén và tự vun vén cho mình từ hơn 30 năm nay rồi, phá đi không phải chuyện một sớm một chiều.
Thứ hai, tôi phải luôn nhắc nhở mình rằng, tu không phải là để được hưởng sướng, mà là để giải khổ. Cuộc sống của người tu là một trải nghiệm tự thân, mà tự thân thì có nghĩa là "như nhân ẩm thủy, lãnh noãn tự tri." Tôi hãy đừng nói gì với ai về những chuyện của mình, đừng share link gì trên facebook, bởi tu tập không phải là chuyện nên trưng ra trước chốn đông người. Tôi đã chưa kiềm chế được tâm mình trong những việc như thế. Tôi còn nói, tôi còn có điều gì muốn nói, là tâm tôi còn vọng động. Viết đến đây, tôi chợt nhớ đến tinh thần cương quyết một lòng vì đạo của Phật Thích Ca. Mỗi khi các tì kheo ngồi bàn những chuyện hý luận thế gian, bàn về nhạc lý, bàn về việc cai trị của các vua, bàn về dân chúng nơi này nơi nọ, bàn về chuyện đi khất thực phương xa để xem phong tục mỗi nơi mỗi vẻ, ... Phật lại quở trách họ và dạy họ đừng nên bàn đến những chuyện thị phi đó, Khi có người hỏi về thế giới, về sự hình thành của thế giới, Phật im lặng không trả lời. Phật dạy, với những chuyện không có ích gì cho sự giải thoát thì đừng nghĩ, đừng bàn, vì càng nghĩ càng vọng, càng bàn càng loạn. Đối trước người chưa đủ duyên để độ, Phật cũng im lặng. Thực ra, mỗi mỗi lời nói cử chỉ của Phật đều có nguyên nhân sâu xa đến mức khi thấy Phật cười, ngài A-nan cũng phải hỏi duyên cớ. Thậm chí có lần khi Phật dẫn ngài La-hầu-la vào thành khất thực, giữa đường Phật dạy ngài La-hầu-la về niệm an-ban, ngài La-hầu-la ngạc nhiên không hiểu vì cớ gì mà Phật nói, nhưng ngài biết, khi Phật đã nói nhất định phải có nguyên do. Vậy là, đang giữa đường khất thực, ngài La-hầu-la quay trở về tịnh xá thực hành lời Phật vừa dạy, và ngài chứng quả A-la-hán. So ra, và nếu đem áp dụng cái nguyên tắc Pareto, có lẽ 80% những gì tôi nói, nghĩ, và làm là thừa thãi.
Thứ ba, tôi đừng mong lấy cam kết tu tập ra làm một thứ mặc cả với chư Phật. Đừng mong tu là được thoát mọi tai nạn, khổ đau. Tôi là hàng tiệm tu, đừng mong chờ một giây đốn ngộ để mà "sát na diệt khước a tỳ nghiệp." Đừng mong chờ một sự gì đó khác biệt. Xưa kia, Phật và các bậc A-la-hán đã làm gương cho tôi rồi, đã cho tôi thấy rằng các ngài cũng già, cũng bệnh, cũng chết như ai, cũng trải qua đủ những thăng trầm của thế gian. Phật cũng có khi đi khất thực mà về tay không. Ngài Mục-kiền-liên thần thông đệ nhất mà chết vì bị người đánh đập. Những chuyện đó là vô lý chăng? Không, tôi nghĩ, đó là các ngài thị hiện tấm gương ở đời để hậu thế trông đó mà học tập. Khi tu rồi thì khổ vẫn đó mà vui vẫn vậy, núi Tu-di chỉ sụp đổ ở trong lòng.
Vậy đấy, tôi ạ.
Dĩ nhiên, cái ngã của tôi cảm thấy bị thương tổn nặng nề. Dường như lúc ấy tôi cảm nhận được sự tồn tại của nó - cái ngã quái quỷ. Tôi đã muốn tranh cãi với cô bạn kia, và phải vất vả lắm tôi mới kìm lòng lại được.
Tôi nhận ra vài điều. Thứ nhất, lời nói gây phiền não. Tôi đã chủ động đem chuyện nơi này truyền tới nơi kia, tự mình khiến tâm mình vọng động. Mọi chuyện thị phi, tôi hãy dừng nó lại ở ngoài cửa tâm. Giữ được tâm bình thường trước những khen chê quả là khó. Phá đi cái ngã chấp thật gian nan. Giữa cái việc giữ lòng không ham tranh đấu với việc làm một con rùa rụt cổ là một ranh giới mỏng manh vi tế, thoạt nhìn sẽ có cảm giác như đạo Phật là đạo cầu an tránh đời. Nhưng cái tâm lý ham tranh danh đoạt lợi kia, tôi đã được vun vén và tự vun vén cho mình từ hơn 30 năm nay rồi, phá đi không phải chuyện một sớm một chiều.
Thứ hai, tôi phải luôn nhắc nhở mình rằng, tu không phải là để được hưởng sướng, mà là để giải khổ. Cuộc sống của người tu là một trải nghiệm tự thân, mà tự thân thì có nghĩa là "như nhân ẩm thủy, lãnh noãn tự tri." Tôi hãy đừng nói gì với ai về những chuyện của mình, đừng share link gì trên facebook, bởi tu tập không phải là chuyện nên trưng ra trước chốn đông người. Tôi đã chưa kiềm chế được tâm mình trong những việc như thế. Tôi còn nói, tôi còn có điều gì muốn nói, là tâm tôi còn vọng động. Viết đến đây, tôi chợt nhớ đến tinh thần cương quyết một lòng vì đạo của Phật Thích Ca. Mỗi khi các tì kheo ngồi bàn những chuyện hý luận thế gian, bàn về nhạc lý, bàn về việc cai trị của các vua, bàn về dân chúng nơi này nơi nọ, bàn về chuyện đi khất thực phương xa để xem phong tục mỗi nơi mỗi vẻ, ... Phật lại quở trách họ và dạy họ đừng nên bàn đến những chuyện thị phi đó, Khi có người hỏi về thế giới, về sự hình thành của thế giới, Phật im lặng không trả lời. Phật dạy, với những chuyện không có ích gì cho sự giải thoát thì đừng nghĩ, đừng bàn, vì càng nghĩ càng vọng, càng bàn càng loạn. Đối trước người chưa đủ duyên để độ, Phật cũng im lặng. Thực ra, mỗi mỗi lời nói cử chỉ của Phật đều có nguyên nhân sâu xa đến mức khi thấy Phật cười, ngài A-nan cũng phải hỏi duyên cớ. Thậm chí có lần khi Phật dẫn ngài La-hầu-la vào thành khất thực, giữa đường Phật dạy ngài La-hầu-la về niệm an-ban, ngài La-hầu-la ngạc nhiên không hiểu vì cớ gì mà Phật nói, nhưng ngài biết, khi Phật đã nói nhất định phải có nguyên do. Vậy là, đang giữa đường khất thực, ngài La-hầu-la quay trở về tịnh xá thực hành lời Phật vừa dạy, và ngài chứng quả A-la-hán. So ra, và nếu đem áp dụng cái nguyên tắc Pareto, có lẽ 80% những gì tôi nói, nghĩ, và làm là thừa thãi.
Thứ ba, tôi đừng mong lấy cam kết tu tập ra làm một thứ mặc cả với chư Phật. Đừng mong tu là được thoát mọi tai nạn, khổ đau. Tôi là hàng tiệm tu, đừng mong chờ một giây đốn ngộ để mà "sát na diệt khước a tỳ nghiệp." Đừng mong chờ một sự gì đó khác biệt. Xưa kia, Phật và các bậc A-la-hán đã làm gương cho tôi rồi, đã cho tôi thấy rằng các ngài cũng già, cũng bệnh, cũng chết như ai, cũng trải qua đủ những thăng trầm của thế gian. Phật cũng có khi đi khất thực mà về tay không. Ngài Mục-kiền-liên thần thông đệ nhất mà chết vì bị người đánh đập. Những chuyện đó là vô lý chăng? Không, tôi nghĩ, đó là các ngài thị hiện tấm gương ở đời để hậu thế trông đó mà học tập. Khi tu rồi thì khổ vẫn đó mà vui vẫn vậy, núi Tu-di chỉ sụp đổ ở trong lòng.
Vậy đấy, tôi ạ.
Không hiểu sao, khi ngồi một mình và nghe tụng kinh, tôi lại thấy lòng mình đang xúc động lắm lắm. Có khi là nghe lời, có khi là nghe tiếng chuông, tiếng mõ, có khi lại chăm chú vào giọng tụng chân phương của các thầy. Có khi vừa nghe tôi vừa khóc. Những bài tụng này, có lẽ không phải ai cũng thích nghe. Tôi đã có lần đưa mẹ tôi thử nhưng hình như bà không hào hứng lắm.
Có lẽ từ nhỏ do bà tôi hay nghe chèo, mẹ lại thích cải lương nên những âm thanh này với tôi quen thuộc chăng? Thời xưa xưa lắm, tôi cứ ngóng tới tối thứ 7 vì đó là tối duy nhất trong tuần chiếu cải lương. Những bài tân cổ giao duyên tôi cũng thích, đâu như tới tận cấp 2 vẫn nghe. Bây giờ thì phần nào tôi thấy cải lương đúng là... cải lương, và có lẽ cũng không còn có ý chủ động tìm nghe nữa. Nhưng tôi lại bắt nhịp nhanh với những bài kinh tụng.
Nhưng dù vì bất cứ lý do gì, tôi vẫn nghĩ rằng có từng chút những mối nhân duyên tích lũy lại để đưa tôi đến với số phận của mình. Tôi nghĩ, mỗi người, mỗi sự việc đến với mình dường như đều hàm ẩn trong đó một thứ mật mã, một thông điệp nào đó dành cho tôi tự nghiệm trong một tương lai phía trước.
Vậy cho nên, có lẽ, tôi cần phải học cách trân trọng tất cả. Xấu và tốt, hay và dở, vui và buồn... Tất cả đều cần tôi phải biết trân trọng.
https://www.youtube.com/watch?v=mpQTJ5wJMqQ
Có lẽ từ nhỏ do bà tôi hay nghe chèo, mẹ lại thích cải lương nên những âm thanh này với tôi quen thuộc chăng? Thời xưa xưa lắm, tôi cứ ngóng tới tối thứ 7 vì đó là tối duy nhất trong tuần chiếu cải lương. Những bài tân cổ giao duyên tôi cũng thích, đâu như tới tận cấp 2 vẫn nghe. Bây giờ thì phần nào tôi thấy cải lương đúng là... cải lương, và có lẽ cũng không còn có ý chủ động tìm nghe nữa. Nhưng tôi lại bắt nhịp nhanh với những bài kinh tụng.
Nhưng dù vì bất cứ lý do gì, tôi vẫn nghĩ rằng có từng chút những mối nhân duyên tích lũy lại để đưa tôi đến với số phận của mình. Tôi nghĩ, mỗi người, mỗi sự việc đến với mình dường như đều hàm ẩn trong đó một thứ mật mã, một thông điệp nào đó dành cho tôi tự nghiệm trong một tương lai phía trước.
Vậy cho nên, có lẽ, tôi cần phải học cách trân trọng tất cả. Xấu và tốt, hay và dở, vui và buồn... Tất cả đều cần tôi phải biết trân trọng.
https://www.youtube.com/watch?v=mpQTJ5wJMqQ
Thứ Tư, 27 tháng 7, 2016
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Tung hoa!!!
Không biết đã bao lâu rồi không viết blog. FB thấy không vào thì cũng ko sao. Nói chung là yên ổn với công việc của mình. Thực ra là ko yê...
-
Ngày 12. Có lẽ hai hôm nay đều bị tụt huyết áp là do tôi hạn chế khẩu phần trưa. Nên hôm nay tôi mang nhiều hơn. Mấy hôm nay, công việc ...
-
Vừa bị bạn H phản bác quan điểm của mình về TNH. Thực ra mấy chuyện này, tranh luận cũng ko giải quyết được gì lắm, vì mỗi người mỗi khác. M...
-
" nhưng tao hiểu, tu hành tốt nhất là với gia đình, thờ cha kính mẹ, chăm lo cho gia đình, rồi cho xã hội rộng lớn hơn. Đạo nào thì cũ...

